Hoa Lư Legacy

Hoa Lư Legacy Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Hoa Lư Legacy, Arts & Crafts Store, số 8, Ngõ 197 Đinh Tiên Hoàng, Ninh Bình.

Bán và cho thuê cổ phục; quà tặng, phụ kiện cổ trang hoa văn cổ tại; Nghiên cứu cổ phục và văn hoá Việt.
Đc: số 8, ngõ 197 Đinh Tiên Hoàng, phường Hoa Lư, tp Ninh Bình.
Đt: (+84)936050064 (Thiên Lý)

𝐏𝐡𝐨̉𝐧𝐠 đ𝐨𝐚́𝐧 𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐇𝐀̣̂𝐔 𝐏𝐇𝐈 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟑)𝑻𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒑𝒉𝒖̣𝒄Dựa vào các pho tượng Hoàng hậu Trường L...
03/09/2026

𝐏𝐡𝐨̉𝐧𝐠 đ𝐨𝐚́𝐧 𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐇𝐀̣̂𝐔 𝐏𝐇𝐈 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟑)
𝑻𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒑𝒉𝒖̣𝒄
Dựa vào các pho tượng Hoàng hậu Trường Lạc (chùa Huy Văn), Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (chùa Bút Tháp), tranh chân dung Nhụ nhân Bùi Thị Giác thế kỷ XVIII và các bức tranh mệnh phụ An Nam trong Hoàng Thanh chức cống đồ, có thể thấy vào ngày thường, trang phục của các bà hậu phi, mệnh phụ thời Lê Trung Hưng, phần lớn vẫn là dạng áo giao lĩnh, áo tứ thân thụng tay, có thể còn có một lớp áo Sam mỏng mặc choàng ra ngoài. Hoa văn trên áo có 3 dạng phổ biến nhất là hoa lá, mây sóng nước và các loại chữ thọ, ngũ thế, chữ vạn.

Ngoài ra, một số hình tượng công chúa, mệnh phụ thể hiện trên các pho tượng thờ tại chùa Phổ Minh, Quán Sứ, Thổ Hà v.v. có niên đại thế kỷ XVII, XVIII đều mặc một loại váy dài quây ngang ức, được thắt lại bằng dải lụa ở dưới ngực, ngoài cùng khoác áo đối khâm, hầu hết đều xõa tóc theo tục để tóc thời Lê Trung Hưng. Các dạng trang phục thể hiện trên các pho tượng này nhiều khả năng đều được tả thực.
*Nguồn: sách Ngàn năm áo mũ (Trần Quang Đức), blog Quốc sử quán.

𝐆𝐢𝐨̛́𝐢 𝐭𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐯𝐚̀ 𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐢𝐞̂́𝐮 𝐩𝐡𝐢𝐦 𝐇𝐎̣̂ 𝐋𝐈𝐍𝐇 𝐓𝐑𝐀́𝐍𝐆 𝐒𝐈̃ - 𝐁𝐢́ 𝐚̂̉𝐧 𝐦𝐨̣̂ 𝐯𝐮𝐚 Đ𝐢𝐧𝐡Hoa Lư Legacy cùng những người bạn đã...
25/08/2026

𝐆𝐢𝐨̛́𝐢 𝐭𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐯𝐚̀ 𝐂𝐨̂𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐢𝐞̂́𝐮 𝐩𝐡𝐢𝐦 𝐇𝐎̣̂ 𝐋𝐈𝐍𝐇 𝐓𝐑𝐀́𝐍𝐆 𝐒𝐈̃ - 𝐁𝐢́ 𝐚̂̉𝐧 𝐦𝐨̣̂ 𝐯𝐮𝐚 Đ𝐢𝐧𝐡

Hoa Lư Legacy cùng những người bạn đã có những giây phút khó quên khi được tham gia Lễ ra mắt và công chiếu bộ phim hành động - huyền sử hoành tráng "Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh".

Bối cảnh thiên nhiên sông núi đất trời Hoa Lư đẹp thơ mộng, hoang sơ, kì vĩ; những pha hành động võ thuật đẹp mắt; nhiều bộ trang phục được đầu tư chỉn chu, đẹp mắt, đặc biệt trang phục quân đội của team ĐẠI VIỆT VÕ BỊ ; cùng với diễn xuất tốt của dàn cast chính như Tuấn Trần, NSND Tự Long, Thiên Tú..., sự chung tay đồng lòng và tâm huyết của cả một ekip đã tạo nên một tác phẩm rất đáng ủng hộ của điện ảnh Việt Nam.

Sự kiện còn có "tiết mục" Hoá thân thành Nhân vật lịch sử, các bạn sẽ được AI tạo những bức ảnh siêu đẹp với trang phục của các nhân vật trong phim.

Hãy ra rạp ủng hộ điện ảnh nước nhà các bạn nhé ^^

𝐏𝐡𝐨̉𝐧𝐠 đ𝐨𝐚́𝐧 𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐇𝐀̣̂𝐔 𝐏𝐇𝐈 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟐)Lễ phục (tiếp...)*𝐌𝐔̃ 𝐇𝐎̉𝐀 𝐏𝐇𝐀̣̂𝐓, 𝐕𝐀̂𝐍 𝐊𝐈𝐄̂𝐍Ở nước ...
12/08/2026

𝐏𝐡𝐨̉𝐧𝐠 đ𝐨𝐚́𝐧 𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐇𝐀̣̂𝐔 𝐏𝐇𝐈 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟐)
Lễ phục (tiếp...)

*𝐌𝐔̃ 𝐇𝐎̉𝐀 𝐏𝐇𝐀̣̂𝐓, 𝐕𝐀̂𝐍 𝐊𝐈𝐄̂𝐍

Ở nước ta chỉ ghi nhận được trường hợp có trang phục Huy Địch như trên vào thời Lê Sơ sang tới thời Lê Trung Hưng không có bất cứ ghi nhận nào về sự xuất hiện của trang phục Huy Địch nữa. Có khả năng cũng giống như trang phục Cổn Miện của hoàng đế, quy chế này cũng bị phế bỏ.

Qua khảo sát các pho tượng Hoàng hậu Ngọc Bạch, Hoàng hậu Ngọc Oánh, Hoàng hậu Ngọc Trúc (chùa Mật, Thanh Hóa), Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ, Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (chùa Bút Tháp, Bắc Ninh), ta thấy những chiếc mũ thể hiện trên các pho tượng này đều có chung một mô típ. Thân mũ đều được vây kín bởi 𝒄𝒂́𝒄 𝒉𝒐𝒂 𝒗𝒂̆𝒏 𝒅𝒂̣𝒏𝒈 𝒍𝒖̛̉𝒂. Giữa trán mũ có 𝒕𝒓𝒂𝒏𝒈 𝒔𝒖̛́𝒄 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕 𝒏𝒈𝒐̂̀𝒊 𝒌𝒊𝒆̂́𝒕 𝒈𝒊𝒂̀. Đỉnh mũ còn có trang sức hình chữ nhật, một đầu gắn sau trán mũ, một đầu tì lên búi tóc. Tạo hình hết sức gần gụi với các loại mũ thể hiện trên tượng Phật chùa Mía, tượng Phật bà chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, chùa Ngo và một số tranh vẽ Bồ Tát Phổ Hiền.

Kết hợp với loại mũ mang đậm âm hưởng Phật giáo này, phần lớn là dạng 𝐚́𝐨 𝐠𝐢𝐚𝐨 𝐥𝐢̃𝐧𝐡, đ𝐢 𝐜𝐮̀𝐧𝐠 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐚́𝐨 đ𝐨̂́𝐢 𝐤𝐡𝐚̂𝐦 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐡𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠. Riêng hai pho tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và Hoàng hậu Phạm Thị Ngọc Oánh còn khoác 𝐯𝐚̂𝐧 𝐤𝐢𝐞̂𝐧 𝐧𝐚̣𝐦 𝐡𝐢̀𝐧𝐡 𝐫𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐩𝐡𝐮̛𝐨̛̣𝐧𝐠 phủ trên vai, phía dưới đính 𝒄𝒂́𝒄 𝒅𝒂̉𝒊 𝒂𝒏𝒉 𝒍𝒂̣𝒄 𝒅𝒂̀𝒊 che lưng và bụng. Phần lớn viền áo, viền dây buộc tóc và viền tay áo đều được thêu dệt những hoa văn hoa cuộn đan xen. Một số bà phi còn mặc 𝒚𝒆̂́𝒎 đ𝒊́𝒏𝒉 𝒄𝒂́𝒄 𝒕𝒓𝒂𝒏𝒈 𝒔𝒖̛́𝒄 𝒗𝒂̀𝒏𝒈, 𝒏𝒈𝒐̣𝒄, hoặc đeo vòng trang sức nhiều tầng, toát lên vẻ sang trọng, quý phái.

Từ đó có thể phỏng đoán rằng kiểu mũ tương tự vương miện, mang hơi hướng tôn giáo, kết hợp với các dạng áo giao lĩnh, tứ thân đối khâm, vân kiên, dải trang sức anh lạc, thậm chí phối với tràng hạt có thể là một trong những bộ Lễ phục của hậu phi nhà Lê Trung Hưng.
*Nguồn tham khảo: sách Ngàn Năm Áo Mũ (Trần Quang Đức); Blog Quốc Sử Quán.

Phỏng đoán TRANG PHỤC HẬU PHI THỜI LÊ TRUNG HƯNG (Phần 1)𝟏. 𝐋𝐄̂̃ 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 "𝐇𝐔𝐘 Đ𝐈̣𝐂𝐇"Thông tin duy nhất liên quan đến trang...
24/07/2026

Phỏng đoán TRANG PHỤC HẬU PHI THỜI LÊ TRUNG HƯNG (Phần 1)

𝟏. 𝐋𝐄̂̃ 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 "𝐇𝐔𝐘 Đ𝐈̣𝐂𝐇"

Thông tin duy nhất liên quan đến trang phục Hậu phi thời Hậu Lê là những dòng miêu tả của Nguyễn Trãi trong tế văn soạn cho Hoàng Thái Phi. Trong Tang thương ngẫu lục, phần Lê Công Trãi và Ức Trai di tập viết: "...𝑉𝑎̣̂𝑦 𝑥𝑒́𝑡 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑝ℎ𝑒́𝑝 𝑛ℎ𝑎̀ 𝑇ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝐶ℎ𝑢, 𝑡𝑜̂𝑛 𝑝ℎ𝑜𝑛𝑔 𝑏𝑎̀ 𝑙𝑎̀𝑚 𝑏𝑢̛̣𝑐 𝑇ℎ𝑎́𝑖 𝑃ℎ𝑖, đ𝑒̂̉ 𝑡𝑜̃ 𝑟𝑜̃ 𝑐𝑜̂𝑛𝑔 𝑝ℎ𝑢̀ 𝑡𝑟𝑖̀, đ𝑒̂̉ ℎ𝑜̛̣𝑝 𝑙𝑒̂̃ 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑘𝑖́𝑛ℎ. 𝐶ℎ𝑎𝑜 𝑜̂𝑖! 𝐴́𝑜 𝑥𝑖𝑒̂𝑚 (𝐻𝑎́𝑛 𝑡𝑢̛̣: 𝐻𝑢𝑦 Đ𝑖̣𝑐ℎ) 𝑑𝑎̂𝑛𝑔 𝑡𝑖𝑒̂́𝑛 𝑣𝑖𝑛ℎ 𝑞𝑢𝑎𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔 𝑐𝑢̛́ 𝑘ℎ𝑖 𝑚𝑎̂́𝑡 𝑐𝑜̀𝑛; 𝑛𝑎̂́𝑚 đ𝑎̂́𝑡 𝑣𝑖𝑛 𝑏𝑜̂̀𝑖, 𝑟𝑢̛̣𝑐 𝑟𝑜̛̃ đ𝑒̂́𝑛 𝑡𝑎̣̂𝑛 𝑐𝑜̃𝑖 𝑚𝑖𝑛ℎ 𝑚𝑎̣𝑐!"

Áo này vốn nên gọi là Địch Y, nhưng sở dĩ gọi là Huy Địch là do căn cứ theo Hán tự trong bài tế văn của Nguyễn Trãi.

Dựa vào nội dung tờ chế có thể phỏng đoán vào thời Lê Thái Tông lễ phục của Hoàng Thái Phi là Huy Địch, loại lễ phục đặt định 𝐭𝐡𝐞𝐨 𝐪𝐮𝐲 𝐜𝐡𝐞̂́ 𝐜𝐮̉𝐚 𝐧𝐡𝐚̀ 𝐂𝐡𝐮, được coi là chuẩn mực của Nho giáo. Đây cũng là lễ phục chung của hậu phi các triều Tống-Minh, Triều Tiên và Lưu Cầu.

𝐋𝐞̂̃ 𝐩𝐡𝐮̣𝐜 Huy Địch
Theo Chu lễ, Huy Địch 𝒍𝒂̀ 𝑳𝒆̂̃ 𝒑𝒉𝒖̣𝒄 𝒕𝒐̂𝒏 𝒒𝒖𝒚́ 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 trong sáu loại trang phục của hậu phi, 𝒕𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 đ𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒕𝒓𝒂𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒖̣𝒄 𝑪𝒐̂̉𝒏 𝑴𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒉𝒐𝒂̀𝒏𝒈 đ𝒆̂́.

Huy Địch thường là một dạng áo Giao Lĩnh có thân rất dài, mặc bên trong nhiều lớp áo lót khác nhau, mục đích của việc này có le xlaf muốn chỉ để lộ một tấm thân áo từ trên xuống dưới đều là hoa văn chim Trĩ ("Địch" = Chim Trĩ).

Huy Địch được sử dụng trong các dịp như đại lễ sách phong và hôn lễ, nó đồng thời cũng là Tế phục. Một Bộ trang phục Huy Địch sẽ bao gồm:
𝑷𝒉𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝑸𝒖𝒂𝒏 (鳳冠 - 𝑴𝒖̃ 𝑷𝒉𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝑯𝒐𝒂̀𝒏𝒈)

Mũ Phượng Quan có màu sắc chủ đạo là màu xanh ngọc bích, được trang trí hoa lá, mây trời, chim phượng và rồng.
Cũng giống như mũ Miện của Hoàng Đế mũ Phượng Quan sẽ có số trang sức để phân rõ đẳng cấp

Theo quy chế Tống - Minh
Cấp cao nhất là mũ Phượng Quan với 12 con rồng vàng và 9 phượng ngọc trên mũ - cấp thấp hơn 9 rồng 9 phượng - dưới nữa 6 rồng 3 phượng - 3 rồng 3 phượng - 3 rồng 2 phượng
Trang phục mặc với Phượng quan là Địch Y

Đ𝒊̣𝒄𝒉 𝒀 (翟衣)

Hậu phi khi mặc trang phục Huy Địch thường mặc tới 5 - 6 lớp áo, với kết cấu phức tạp và chặt chẽ ngang với Cổn miện cho hoàng đế.
Áo mặc ngoài của trang phục Huy Địch 𝒏𝒈𝒖𝒚𝒆̂𝒏 𝒈𝒐̂́𝒄 𝒎𝒂̀𝒖 đ𝒆𝒏 𝒉𝒖𝒚𝒆̂̀𝒏 thêu hoa văn chim trĩ. Sang tới 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 Đ𝒖̛𝒐̛̀𝒏𝒈 𝒕𝒓𝒐̛̉ 𝒗𝒆̂̀ 𝒔𝒂𝒖 𝒔𝒂̆́𝒄 𝒂́𝒐 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒕𝒉𝒂𝒚 𝒃𝒂̆̀𝒏𝒈 𝒎𝒂̀𝒖 𝒙𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒂̂̃𝒎, trên thân áo thêu hoa văn chim trĩ 12 hàng, viền tay áo và cổ áo đều thêu rồng, kiểu thiết kế này được dùng tới hết thời Minh.

Mặc dù vậy 𝑳𝒆̂̃ 𝒑𝒉𝒖̣𝒄 Huy Đ𝒊̣𝒄𝒉 𝒗𝒂̂̃𝒏 𝒄𝒐́ 𝒔𝒖̛̣ 𝒃𝒊𝒆̂́𝒏 𝒅𝒊̣ 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 đ𝒊̣𝒏𝒉 dựa theo từng thời điểm - hoàn cảnh - quốc gia
Ví dụ thời Hán, hoàng hậu sử dụng Cân Quắc, thời Đường Đường dùng trâm thoa hình hoa cài trên tóc thay cho Phượng Quan. Thời Tống – Minh dùng Phượng quan.

Với Triều Tiên thay, nhiều trường hợp mái tóc vương hậu được vấn tết thành búi lớn (Hoặc đội một bộ tóc giả lớn) sau đó cài trang sức hoa tròn và trâm vàng trổ hình chim phượng lớn nhỏ lên mái tóc đó, chính số trang sức trên tóc là thứ phân biệt đẳng cấp.

Ngoài ra khi dùng trong hôn lễ trang phục Huy Địch sẽ được biến thể thành màu đỏ trang phục đó được gọi là trang phục 𝑲𝒉𝒖𝒚𝒆̂́𝒕 đ𝒊̣𝒄𝒉 (阙翟), kiểu dáng và hoa văn gần như Địch Y chỉ khác ở màu sắc.
Cũng có khi không phải là hôn lễ mà tùy theo mùa trong năm hoặc cấp bậc mà Huy Địch được chuyển sang màu đỏ.

Các phi tử của hoàng tử - thái tử thì sẽ mặc bộ trang phục gần giống Địch Y được gọi là 𝑫𝒖 đ𝒊̣𝒄𝒉 (褕翟), về màu sắc kết cấu cơ bản gần giống Địch Y nhưng điểm khác là trên áo không thêu 12 hàng hoa văn chim trĩ mà thêu hoa văn chim diều hâu với 9 hàng.

Cả 3 bộ trang phục trên được gọi chung là Tam địch (三翟) là 3 dạng lễ phục cao quý và phổ biến nhất dành cho phụ nữ quý tộc, hậu phi tại các nước dùng chữ Hán.

*Nguồn tham khảo: sách Ngàn năm áo mũ (Trần Quang Đức); Blog Quốc sử quán, sách Dệt nên triều đại (Vietnam Centre)

𝐋𝐨̂̀𝐧𝐠 đ𝐞̀𝐧 𝐔𝐲𝐞̂𝐧 𝐔̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐭𝐫𝐮𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐮Lại sắp 1 mùa Trung Thu rộn rã, năm nay tổ thủ công của người anh cả chúng mình Hợp tá...
21/07/2026

𝐋𝐨̂̀𝐧𝐠 đ𝐞̀𝐧 𝐔𝐲𝐞̂𝐧 𝐔̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐭𝐫𝐮𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐮

Lại sắp 1 mùa Trung Thu rộn rã, năm nay tổ thủ công của người anh cả chúng mình Hợp tác xã Sinh Dược đang cặm cụi, tỉ mẩn uốn uốn, cắt cắt, dán dán làm nên những chiếc Đèn trung thu "Made in Hoa Lư" độc đáo, dễ thương, đậm đà bản sắc Ninh Bình - với hình dáng đèn lấy cảm hứng từ hình tượng Vịt Uyên Ương thời Đinh - Tiền Lê thế kỉ 10.

Đèn được làm thủ công từ giấy Dó, 60 x 60 cm, màu trắng ngà, các bạn có thể mua về tự tô màu theo ý thích. Trong ảnh là 1 số phiên bản màu do AI gợi í, chúng mình cũng đang pha phối và tô màu để cho ra những bản đèn màu đẹp nhất.

Hàng đặt trước, tầm 15 ngày mới có ạ.

𝐗𝐚̀ 𝐛𝐨̂𝐧𝐠 𝐇𝐨𝐚 𝐒𝐞𝐧 Đ𝐢𝐧𝐡 - 𝐋𝐞̂ Combo 10 xà bông đồ án hoa Sen nở Mãn Khai đang được ưu đãi 90 ngàn ạ.Combo sẽ có đầy đủ cá...
08/07/2026

𝐗𝐚̀ 𝐛𝐨̂𝐧𝐠 𝐇𝐨𝐚 𝐒𝐞𝐧 Đ𝐢𝐧𝐡 - 𝐋𝐞̂

Combo 10 xà bông đồ án hoa Sen nở Mãn Khai đang được ưu đãi 90 ngàn ạ.
Combo sẽ có đầy đủ các mùi thảo mộc khác nhau kèm bao bì riêng như ảnh.

Hoa Sen Mãn Khai là hoa văn đặc trưng trên gạch lát kinh thành thời Đinh - Tiền Lê - Lý, vẫn còn ứng dụng cho đến ngày nay.

𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐐𝐔𝐀𝐍 𝐋𝐀̣𝐈 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟓 - 𝐡𝐞̂́𝐭)𝑻𝑰𝑬̣̂𝑵 𝑷𝑯𝑼̣𝑪Khác với các thời khác, quan lại thời Lê Trun...
01/07/2026

𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐐𝐔𝐀𝐍 𝐋𝐀̣𝐈 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟓 - 𝐡𝐞̂́𝐭)
𝑻𝑰𝑬̣̂𝑵 𝑷𝑯𝑼̣𝑪
Khác với các thời khác, quan lại thời Lê Trung Hưng ngay trong tiện phục mặc khi không phải làm việc cung có các quy chế riêng để phân biệt đẳng cấp nhằm khu biệt danh phận tôn ti, trên dưới. Ngoài các loại mũ Bình Đính, Đinh Tự, Lương Cân, Yến Vĩ vừa được coi là Thị phục, vừa được dùng làm trang phục thường ngày, quan lại quý tộc và nho sĩ thời Lê Trung Hưng còn có các loại mũ Tiện phục như Bao Đính, Bát Tiên, Bức Cân v.v.

𝐌𝐮̃ 𝐓𝐫𝐮𝐧𝐠 𝐓𝐢̃𝐧𝐡 忠靖冠
Theo quy chế của nhà Minh, mũ Trung Tĩnh là loại mũ Tiện phục của các chức quan đội khi nhàn hạ, không phải vào triều.

Loại mũ này có khung làm bằng sợi sắt, bên ngoài bọc bằng the đen, nhung đen, chóp mũ hơi vuông, phần giữa hơi nhô, trán mũ sức các viền lương, ép bằng sợi vàng, sau mũ có hai cánh (gọi là nhị sơn), cũng được làm bằng viền vàng. Mũ của quan từ tứ phẩm trở xuống không dùng kim tuyến, đổi dùng sợi tơ nhạt màu. Viền lương được quy định tùy theo phẩm cấp.

Sự hiện diện của loại mũ này tại nước ta chỉ được thể hiện duy nhất qua bức tượng hoàng tử Lê Đình Tứ tại chùa Bút Tháp, Bắc Ninh.

𝐁𝐚𝐨 Đ𝐢́𝐧𝐡, 𝐁𝐚́𝐭 𝐓𝐢𝐞̂𝐧, 𝐁𝐮̛́𝐜 𝐂𝐚̂𝐧 包頂、八仙、幅巾

Phạm Đình Hổ kể lại: “𝑇𝑎 𝑡ℎ𝑢𝑜̛̉ 𝑛ℎ𝑜̉ 𝑡ℎ𝑎̂́𝑦 𝑐𝑎́𝑐 𝑏𝑎̣̂𝑐 𝑡𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑏𝑜̂́𝑖 𝑘ℎ𝑖 𝑛ℎ𝑎̀𝑛 𝑐𝑢̛ 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 đ𝑜̣̂𝑖 𝑀𝑎̃ 𝑉𝑖̃ 𝐵𝑎𝑜 Đ𝑖́𝑛ℎ (𝑃ℎ𝑎̣𝑚 Đ𝑖̀𝑛ℎ 𝐻𝑜̂̉ 𝑐𝑜̀𝑛 𝑔𝑖𝑎̉𝑖𝑡ℎ𝑖́𝑐ℎ: 𝑀𝑎̃ 𝑉𝑖̃ 𝑐𝑎̂𝑛 𝑙𝑎̀ 𝑚𝑢̃ 𝑜̂́𝑛𝑔 𝑀𝑎̃ 𝑉𝑖̃, 𝑘𝑖𝑒̂̉𝑢 𝑑𝑎́𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑜̀𝑛, đ𝑖̉𝑛ℎ 𝑝ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔, 𝑐𝑎𝑜 𝑘ℎ𝑜𝑎̉𝑛𝑔 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑐, 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝐵𝑎́𝑡 𝑇𝑖𝑒̂𝑛. Đ𝑜̂́𝑖 𝑣𝑜̛́𝑖 𝑛ℎ𝑎̀ 𝑠𝑖̃ 𝑡ℎ𝑢̛́ 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑚𝑢̃ 𝐵𝑎́𝑡 𝑇𝑖𝑒̂𝑛 𝑣𝑎̀ 𝐵𝑢̛́𝑐 𝐶𝑎̂𝑛 𝑙𝑎̀ 𝐶𝑜̂𝑛𝑔 𝑝ℎ𝑢̣𝑐. 𝑀𝑢̃ 𝐵𝑎́𝑡 𝑇𝑖𝑒̂𝑛 𝑙𝑎̀𝑚 𝑏𝑎̆̀𝑛𝑔 đ𝑜𝑎̣𝑛 𝑚𝑎̀𝑢 ℎ𝑢𝑦𝑒̂̀𝑛 ℎ𝑜𝑎̣̆𝑐 𝑠𝑎 𝑡ℎ𝑒, đ𝑖̉𝑛ℎ 𝑝ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔,𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑚𝑎𝑦 𝑐𝑎́𝑛ℎ ℎ𝑜𝑎 𝑐𝑢́𝑐 𝑚𝑎̂́𝑦 𝑙𝑜̛́𝑝 đ𝑢̀𝑚 𝑙𝑒̂𝑛 𝑛ℎ𝑎𝑢, 𝑞𝑢𝑎𝑛ℎ 𝑚𝑢̃ 𝑔𝑎̂́𝑝 𝑛𝑒̂́𝑝 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑚𝑢̃ 𝑇𝑟𝑢́𝑐 𝑄𝑢𝑎𝑛 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 𝑐𝑜̂̉, 𝑑𝑎̉𝑖 𝑑𝑎̂𝑦 𝑏𝑢𝑜̣̂𝑐 𝑛𝑔𝑎𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑎́𝑛, 𝑏𝑢𝑜̂𝑛𝑔 𝑝ℎ𝑎̂̀𝑛 𝑡ℎ𝑢̛̀𝑎 𝑟𝑎 𝑠𝑎𝑢 𝑔𝑎́𝑦 𝑣𝑎̀ ℎ𝑎𝑖 𝑡𝑎𝑖 𝑐𝑜́ 𝑑𝑖𝑒̂̀𝑚 𝑟𝑢̉, đ𝑎̣𝑖 đ𝑒̂̉ 𝑝ℎ𝑜̉𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑚𝑢̃ 𝐵𝑎𝑜 Đ𝑖́𝑛ℎ 𝑚𝑎̀ 𝑙𝑎̀𝑚 𝑡ℎ𝑒̂𝑚 𝑣𝑎̆𝑛 𝑣𝑒̉ 𝑣𝑎̣̂𝑦. 𝐵𝑢̛́𝑐 𝐶𝑎̂𝑛 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑃ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝐶𝑎̂𝑛 𝑔𝑎̂́𝑝 𝑙𝑎̣𝑖 𝑚𝑎̀ 𝑡ℎ𝑎̀𝑛ℎ, 𝑐𝑢̣ 𝑡ℎ𝑒̂̉ 𝑥𝑒𝑚 𝐺𝑖𝑎 𝑙𝑒̂̃ (𝑡𝑢̛́𝑐 𝐶ℎ𝑢 𝑇𝑢̛̉ 𝑔𝑖𝑎 𝑙𝑒̂̃).” Ông còn nói: “𝑁𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑡𝑎 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑚𝑢̃ 𝑇𝑟𝑢𝑦 𝐵𝑜̂́, 𝑠𝑜𝑛𝑔 𝐵𝑎𝑜 Đ𝑖́𝑛ℎ 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑡ℎ𝑒̂̉ 𝑐ℎ𝑢̛́𝑎 𝑡𝑜́𝑐, ℎ𝑜𝑎̣̆𝑐 (𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑡𝑎) 𝑐𝑜́ 𝑙𝑢́𝑐 đ𝑜̣̂𝑖 𝐵𝑢̛́𝑐 𝐶𝑎̂𝑛.”

Qua miêu tả của Phạm Đình Hổ, có thể thấy 𝐦𝐮̃ 𝐁𝐚́𝐭 𝐓𝐢𝐞̂𝐧 thực chất là mũ 𝐌𝐚̃ 𝐕𝐢̃ 𝐁𝐚𝐨 Đ𝐢́𝐧𝐡. Hai loại mũ này đều có thân tròn, đỉnh phẳng tương tự mũ viên thể Bình Đính của vua Lê, chúa Trịnh. Nhìn chung, mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, với chiều cao và trang sức khác nhau, song kiểu mũ dạng ống đỉnh bằng rõ ràng đã từng rất phổ biến vào thời Lê Trịnh.

Riêng 𝐁𝐮̛́𝐜 𝐂𝐚̂𝐧, ngay từ thời Hồ, Nguyễn Phi Khanh đã miêu tả Chương Túc hầu Trần Nguyên Đán đội “𝐵𝑢̛́𝑐 𝐶𝑎̂𝑛 đ𝑢̉𝑛𝑔 đ𝑖̉𝑛ℎ 𝑙𝑒𝑜 𝑙𝑒̂𝑛 𝑛𝑢́𝑖”, chứng tỏ Bức Cân đã xuất hiện ở Việt Nam từ khá sớm. Bức Cân có kiểu dáng tương tự mũ ni, song hai bên mang tai có hai dải thắt, thắt lại sau đầu. Loại khăn - mũ này thường được kết hợp với Thâm y, vốn là một trong những bộ trang phục trang trọng của nho sĩ, từng hết sức phổ biến tại Trung Quốc và Triều Tiên. Vào thời Lê Trung Hưng, theo cách nói của Phạm Đình Hổ, dường như tần suất sử dụng Bức Cân không phổ biến như mũ Bao Đính, song thi thoảng vẫn có người sử dụng. Và cũng theo ông, đối tượng sử dụng Bức Cân tại Việt Nam không chỉ có nho sĩ mà còn có cả người dân thường.

Chúng ta có thể thấy Bức Cân qua tranh chân dung Nguyễn Siêu, phù điêu chân dung Ngô Thì Sỹ, tượng Vũ Miên, tranh chân dung thân mẫu họa sĩ Nam Sơn, và bức ảnh Albert Kahn chụp một vị kỳ lão ở ngoại ô Hà Nội năm 1920.

Trên đây là một số kiểu mũ mão thường nhật của quan lại quý tộc được nhắc đến trong sử liệu hiện khảo được. Trên thực tế, kiểu dáng mũ mão của các văn nhân, nho sĩ, quý tộc thời Lê chắc hẳn phong phú, đa dạng hơn nhiều so với ghi chép của sử liệu. Sau này vào đầu thời Nguyễn, với ý muốn cải đổi trang phục cho khác hẳn tiền triều ở Đàng Ngoài, triều đình nhà Nguyễn đã ra sức cấm các loại mũ từng được sử dụng phổ biến vào thời Lê. Đây cũng chính là nguyên do khiến chúng ta thấy người triều Nguyễn sang hèn đều đồng loạt búi tóc vấn khăn, mặc áo dài cài khuy, những kiểu mũ thường nhật dành cho bá quan và nho sĩ phần lớn đã tuyệt tích.

*Nguồn tham khảo: sách Ngàn năm áo mũ (Trần Quang Đức), blog Quốc Sử Quán

TRÂM HOA SEN Hoa Lư LegacyLấy cảm hứng từ hình tượng hoa sen trên các công trình kiến trúc thời Trần, Hoa Lư Legacy chế ...
27/06/2026

TRÂM HOA SEN Hoa Lư Legacy

Lấy cảm hứng từ hình tượng hoa sen trên các công trình kiến trúc thời Trần, Hoa Lư Legacy chế tác chiếc Trâm Hoa Sen chất liệu gỗ hương, làm duyên cho mái tóc của các nàng thơ yêu cổ trang.

𝐻𝑜𝑎 𝑆𝑒𝑛 𝑙𝑎̀ ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑡ℎ𝑎̂𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑒̉ đ𝑒̣𝑝 𝑏𝑖̀𝑛ℎ 𝑑𝑖̣, 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑎𝑜, 𝑘𝑖́𝑛 đ𝑎́𝑜 𝑛ℎ𝑢̛𝑛𝑔 đ𝑎̂̀𝑦 𝑘𝑖𝑒̂𝑢 ℎ𝑎̃𝑛ℎ 𝑐𝑢̉𝑎 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑝ℎ𝑢̣ 𝑛𝑢̛̃ 𝑉𝑖𝑒̣̂𝑡 𝑁𝑎𝑚, 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 đ𝑎̣𝑖 𝑑𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑡𝑖𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑛 𝑣𝑢̛𝑜̛𝑛 𝑙𝑒̂𝑛 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑛𝑔ℎ𝑖̣𝑐ℎ 𝑐𝑎̉𝑛ℎ 𝑣𝑎̀ 𝑦́ 𝑐ℎ𝑖́ 𝑘𝑖𝑒̂𝑛 đ𝑖̣𝑛ℎ, "𝑔𝑎̂̀𝑛 𝑏𝑢̀𝑛 𝑚𝑎̀ 𝑐ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔 ℎ𝑜̂𝑖 𝑡𝑎𝑛ℎ 𝑚𝑢̀𝑖 𝑏𝑢̀𝑛". 𝑇𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑣𝑎̆𝑛 ℎ𝑜́𝑎 𝑉𝑖𝑒̣̂𝑡 𝑁𝑎𝑚 - 𝑣𝑜̂́𝑛 𝑐ℎ𝑖̣𝑢 𝑎̉𝑛ℎ ℎ𝑢̛𝑜̛̉𝑛𝑔 𝑠𝑎̂𝑢 𝑠𝑎̆́𝑐 𝑐𝑢̉𝑎 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑔𝑖𝑎́𝑜 - ℎ𝑜𝑎 𝑠𝑒𝑛 𝑐𝑜̀𝑛 𝑙𝑎̀ 𝑏𝑖𝑒̂̉𝑢 𝑡𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔 𝑐𝑢̉𝑎 𝑠𝑢̛̣ 𝑔𝑖𝑎́𝑐 𝑛𝑔𝑜̣̂, 𝑡𝑢̛̀ 𝑏𝑖 𝑣𝑎̀ 𝑠𝑢̛̣ 𝑡ℎ𝑢𝑎̂̀𝑛 𝑘ℎ𝑖𝑒̂́𝑡 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑡𝑎̂𝑚 ℎ𝑜̂̀𝑛.

Trâm hiện có giá 450 cá, miễn ship toàn quốc và tặng Hộp trâm Hoa Lư Legacy xinh xắn, lấp lánh.

🏯 Hoa Lư Legacy: số 8, ngõ 197, Đinh Tiên Hoàng, phường Hoa Lư, Ninh Bình.
☎ (+84)936050064 (Ms Lý)

𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐁𝐀́ 𝐐𝐔𝐀𝐍 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐩𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟒)𝐓𝐡𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐩𝐡𝐮̣𝐜 (𝐓𝐢𝐞̂́𝐩...)𝐁𝐈̀𝐍𝐇 Đ𝐈́𝐍𝐇 平頂帽Mũ Ô Sa, áo Thanh Cát vừ...
21/06/2026

𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐁𝐀́ 𝐐𝐔𝐀𝐍 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 (𝐩𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟒)
𝐓𝐡𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐩𝐡𝐮̣𝐜 (𝐓𝐢𝐞̂́𝐩...)

𝐁𝐈̀𝐍𝐇 Đ𝐈́𝐍𝐇 平頂帽

Mũ Ô Sa, áo Thanh Cát vừa là Thường phục khi vào hoàng cung chầu vua, vừa là Thị phục khi vào vương phủ hầu chúa. 𝐍𝐚̆𝐦 𝟏𝟕𝟐𝟏 thời chúa Trịnh Cương, quy chế Thị phục được điều chỉnh: “𝒌𝒉𝒊 𝒄𝒉𝒖́𝒂 𝒄𝒐𝒊 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉 𝒔𝒖̛̣ 𝒐̛̉ 𝒑𝒉𝒖̉, 𝒃𝒂́ 𝒒𝒖𝒂𝒏 đ𝒆̂̀𝒖 đ𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒖̃ 𝑩𝒊̀𝒏𝒉 Đ𝒊́𝒏𝒉, 𝒎𝒂̣̆𝒄 𝒂́𝒐 𝑻𝒉𝒂𝒏𝒉 𝑪𝒂́𝒕…𝒌𝒉𝒊 𝒄𝒉𝒖́𝒂 𝒕𝒊𝒆̂́𝒑 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒐̛̉ 𝒄𝒂́𝒄, 𝒄𝒂́𝒄 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒗𝒂̆𝒏 đ𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒖̃ 𝑳𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝑪𝒂̂𝒏, 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒗𝒐̃ đ𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒖̃ 𝒀𝒆̂́𝒏 𝑽𝒊̃.”

Phạm Đình Hổ cũng cho biết: "𝑣𝑎̀𝑜 𝑐𝑎́𝑐 𝑘𝑦̀ 𝑡ℎ𝑖 𝐻𝑜̣̂𝑖 𝑑𝑢̛𝑜̛́𝑖 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 𝑐ℎ𝑢́𝑎 𝑇𝑟𝑖̣𝑛ℎ 𝐺𝑖𝑎𝑛𝑔 (𝑜̛̉ 𝑛𝑔𝑜̂𝑖 1729-1740), 𝑡𝑎̣𝑖 Đ𝑒̣̂ 𝑛ℎ𝑎̂́𝑡 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔, ℎ𝑜𝑎̀𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢̛̣ 𝑔𝑖𝑎́ 𝑡𝑎̣𝑖 đ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝐺𝑖𝑎̉𝑛𝑔 𝑇ℎ𝑢̛, 𝑏𝑎́ 𝑞𝑢𝑎𝑛 đ𝑒̂̀𝑢 đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝑃ℎ𝑜̂́𝑐 Đ𝑎̂̀𝑢, 𝑚𝑎̣̆𝑐 𝐵𝑜̂̉ 𝑝ℎ𝑢̣𝑐, 𝑡ℎ𝑎̆́𝑡 đ𝑎𝑖, đ𝑖 ℎ𝑖𝑎 …Đ𝑒̂́𝑛 Đ𝑒̣̂ 𝑛ℎ𝑖̣ 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔, Đ𝑒̣̂ 𝑡𝑎𝑚 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑣𝑎̀ Đ𝑒̣̂ 𝑡𝑢̛́ 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔, 𝑝ℎ𝑢̉ 𝑙𝑎̀𝑚 𝑡ℎ𝑎𝑦, 𝑐𝑎́𝑐 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑡ℎ𝑒𝑜 ℎ𝑎̂̀𝑢 đ𝑒̂̀𝑢 đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝐵𝑖̀𝑛ℎ Đ𝑖́𝑛ℎ, 𝑚𝑎̣̆𝑐 𝑎́𝑜 𝑇ℎ𝑎𝑛ℎ 𝐶𝑎́𝑡, 𝑡ℎ𝑎̆́𝑡 𝑡ℎ𝑎𝑜, đ𝑖 𝑡𝑎̂́𝑡.”

Trên thực tế, 𝐦𝐮̃ 𝐁𝐢̀𝐧𝐡 Đ𝐢́𝐧𝐡 đ𝐚̃ 𝐭𝐨̂̀𝐧 𝐭𝐚̣𝐢 𝐭𝐮̛̀ 𝐭𝐫𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐧𝐚̆𝐦 𝟏𝟕𝟐𝟏, với tính chất là trang phục thường nhật của quý tộc và nho sĩ. Loại mũ này từng xuất hiện trong tranh của S. Baron, tranh của Jean-Baptiste Tavernier từ thế kỷ XVII.

Theo Phạm Đình Hổ, vào thời Lê Trung Hưng, mũ Bình Đính được chế thành dạng lục lăng, dáng mũ thấp, là loại mũ sử dụng trong dịp tế lễ. Về sau loại mũ này tiếp tục được cải tiến, làm mũ thường phục cho vua quan, vương công và các nho sĩ. 𝐃𝐚𝐧𝐡 𝐩𝐡𝐚̣̂𝐧 𝐭𝐨̂𝐧 𝐭𝐢 đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐤𝐡𝐮 𝐛𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐨̛̉ 𝐜𝐡𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐜𝐚𝐨 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐫𝐚𝐧𝐠 𝐬𝐮̛́𝐜 𝐭𝐫𝐞̂𝐧 𝐦𝐮̃.

Riêng loại mũ viên thể Bình Đính (thân tròn đỉnh phẳng), làm bằng lông đuôi ngựa, sức vàng trên trán là loại mũ thường nhật của vua chúa và là mũ Thường phục của hoàng tử, vương tử; loại mũ kiểu lục lăng đỉnh lõm, làm bằng sa Nam là mũ Thường phục của thái giám. Các sách như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Việt sử ký tục biên đều cho biết mũ của thái giám là mũ Bình Đính sau đổi thành kiểu dáng lục lăng. Alexandre de Rhodes trong Từ điển Việt - Bồ - La định nghĩa: “𝑴𝒖̃ 𝒕𝒉𝒆: 𝑴𝒖̃ 𝒍𝒖̣𝒄 𝒍𝒂̆𝒏𝒈 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒂́𝒄 𝒗𝒊̣ 𝒗𝒂̆𝒏 𝒏𝒉𝒂̂𝒏”. “𝑴𝒖̃ 𝒔𝒂́𝒖 𝒈𝒐́𝒄, 𝒎𝒖̃ 𝒍𝒖̣𝒄 𝒍𝒂̆𝒏𝒈, 𝒄𝒂́𝒄 𝒗𝒂̆𝒏 𝒏𝒉𝒂̂𝒏 𝒗𝒂̀ 𝒃𝒂̣̂𝒄 𝒒𝒖𝒚𝒆̂̀𝒏 𝒒𝒖𝒚́ 𝑨𝒏 𝑵𝒂𝒎 𝒔𝒖̛̉ 𝒅𝒖̣𝒏𝒈.”

Như vậy 𝒎𝒖̃ 𝑩𝒊̀𝒏𝒉 Đ𝒊́𝒏𝒉 𝒗𝒐̂́𝒏 𝒄𝒐́ 𝒅𝒂̣𝒏𝒈 𝒕𝒓𝒐̀𝒏, 𝒗𝒆̂̀ 𝒔𝒂𝒖 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 đ𝒐̂̉𝒊 𝒕𝒉𝒂̀𝒏𝒉 𝒅𝒂̣𝒏𝒈 𝒍𝒖̣𝒄 𝒍𝒂̆𝒏𝒈. Riêng mũ của thái giám đỉnh lõm, phân biệt với mũ đỉnh phẳng (Bình Đính) của vua quan và nho sĩ. Qua một số tranh ảnh thời Lê Trung Hưng hiện còn, có thể thấy mũ Bình Đính màu đen, có kiểu dáng khá cao, mũ của văn nhân nho sĩ đều không có trang sức. Vị quan Triều Tiên là Mân Ám khi trả lời câu hỏi của vua Túc Tông về phong tục của người Việt triều Lê đã miêu tả đoàn cống sứ Đại Việt sang Bắc Kinh, ngoại trừ chánh sứ, những người đi theo “đ𝒆̂̀𝒖 𝒎𝒂̣̆𝒄 𝒂́𝒐 đ𝒆𝒏, đ𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒖̃ đ𝒆𝒏, 𝒌𝒊𝒆̂̉𝒖 𝒅𝒂́𝒏𝒈 𝒎𝒖̃ 𝒓𝒂̂́𝒕 𝒄𝒂𝒐, 𝒃𝒂̂́𝒕 𝒌𝒆̂̉ 𝒔𝒂𝒏𝒈 𝒉𝒆̀𝒏 đ𝒆̂̀𝒖 𝒙𝒐̃𝒂 𝒕𝒐́𝒄.”

Theo ghi chép của Vũ trung tùy bút, mũ thân tròn đỉnh phẳng và mũ lục lăng đỉnh lõm là hai biến thể của mũ Đinh Tự, song cách phân loại như vậy là bất hợp lý. 𝑲𝒊𝒆̂̉𝒖 𝒎𝒖̃ đ𝒊̉𝒏𝒉 𝒑𝒉𝒂̆̉𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒌𝒊𝒆̂̉𝒖 𝒎𝒖̃ 𝒍𝒖̣𝒄 𝒍𝒂̆𝒏𝒈 𝒏𝒆̂𝒏 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒄𝒐𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒃𝒊𝒆̂́𝒏 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒄𝒖̉𝒂 𝒎𝒖̃ 𝑩𝒊̀𝒏𝒉 Đ𝒊́𝒏𝒉, riêng kiểu mũ thứ ba Phạm Đình Hổ miêu tả - “thân tròn may bó, làm bằng vải Thanh Cát, là mũ thông dụng của sĩ thứ, nha lại và binh lính. Gặp ngày quốc tang thì các quan đại thần khi chầu hầu cũng đội, nhưng hình dáng mũ khác nhau” - mới nên coi là biến thể của mũ Đinh Tự.

Đ𝐈𝐍𝐇 𝐓𝐔̛̣ (Thanh Cát, Đa La) 丁字巾

Mũ Đinh Tự trở thành mũ Thường phục của bá quan văn võ nhà Trần 𝐤𝐞̂̉ 𝐭𝐮̛̀ 𝐧𝐚̆𝐦 𝟏𝟑𝟎𝟏. Tuy nhiên sau khi trải qua các đợt cải cách trang phục trong suốt thời Trần - Hồ - Lê sơ, đến thời Lê Trung Hưng, kiểu dáng và đối tượng sử dụng của mũ Đinh Tự đều đã thay đổi.

Vào thời Lê Trung Hưng, 𝒎𝒖̃ Đ𝒊𝒏𝒉 𝑻𝒖̛̣ 𝒑𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒍𝒐̛́𝒏 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒔𝒖̛̉ 𝒅𝒖̣𝒏𝒈 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̣𝒎 𝒗𝒊 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒍𝒂̣𝒊 𝒄𝒂̂́𝒑 𝒕𝒉𝒂̂́𝒑, 𝒃𝒊𝒏𝒉 𝒍𝒊́𝒏𝒉 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒉𝒖̛𝒐̛̀𝒏𝒈 𝒅𝒂̂𝒏. Riêng trong trường hợp quốc tang, các quan đại thần, thậm chí thế tử, vương tử cũng đều sử dụng mũ Đinh Tự làm từ vải Thanh Cát (tức là mũ Thanh Cát). Hoàng Lê nhất thống chí miêu tả Thế tử Trịnh Tông nằm mơ thấy mình mặc áo màu quỳ, đầu đội mũ Đinh Tự, đứng ở phủ đường, ngày hôm sau nói với gia thần:“𝑇𝑎 𝑚𝑜̛ 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑣𝑎̣̂𝑦, 𝑙𝑎̀ đ𝑖𝑒̂̀𝑚 𝑐𝑜́ 𝑡𝑎𝑛𝑔 (𝑐ℎ𝑖̉ 𝑣𝑖𝑒̣̂𝑐 𝑐ℎ𝑢́𝑎 𝑇𝑟𝑖̣𝑛ℎ 𝑆𝑎̂𝑚 𝑚𝑎̂́𝑡).” Phạm Đình Hổ cũng ghi nhận: “𝑔𝑎̣̆𝑝 𝑛𝑔𝑎̀𝑦 𝑞𝑢𝑜̂́𝑐 𝑡𝑎𝑛𝑔, 𝑣𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑐𝑜̂𝑛𝑔, 𝑘ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑠𝑖̃ đ𝑒̂̀𝑢 𝑚𝑎̣̆𝑐 𝑎́𝑜 𝑚𝑎̀𝑢 𝑞𝑢𝑦̀.”

Theo 𝐪𝐮𝐲 𝐜𝐡𝐞̂́ 𝐧𝐚̆𝐦 𝟏𝟕𝟐𝟏, mũ Thanh Cát được áp dụng làm Thường phục kiêm Thị phục cho những đối tượng sau:

Đ𝐎̂́𝐈 𝐓𝐔̛𝐎̛̣𝐍𝐆 𝐒𝐔̛̉ 𝐃𝐔̣𝐍𝐆 𝐌𝐔̃ 𝐓𝐇𝐀𝐍𝐇 𝐂𝐀́𝐓
(theo Lịch triều hiến chương Loại chí)
+ Hoàng tử, vương tử từ chức tả hữu đô đốc, có tước quận công trở lên: Khi vào hầu dùng mũ Thanh Cát, áo Thanh Cát kiểu phú hậu, không lót
+ Hoàng tử, vương tử từ chức đô đốc đồng tri có tước quận công trở xuống: Khi vào hầu dùng mũ Thanh Cát, áo Thanh Cát kiểu phú hậu, có lót
+ Con cháu các quan võ được phong ấm trở lên: Khi vào hầu làm việc dùng mũ Thanh Cát, áo Thanh Cát có lót.
+ Ở trung thư sảnh, các chức hoa văn học sinh, án lại, xá nhân, tướng thần lại, lệnh sử, thư tả, nội thư tả; ở các văn nha môn thì các chức đô lại, đề lại, điển lại, thông lại: Khi vào hầu làm việc thì dùng mũ Thanh Cát, áo Thanh Cát không lót
+ Các chức đô lễ, trấn điện quân tướng quân, lực sĩ hiệu úy, thiên hộ, quản lãnh, phó đô lễ, chánh đô úy, phó thiên hộ, trung úy, lang tướng, phó quản lãnh, bách hộ, đề hạt, phó trung úy, phó lang tướng, tả hữu tiền hậu lang tướng, đô úy, chánh võ úy, phó đề hạt, tả hữu tiền hậu phó lang tướng, phó võ úy, vệ úy, phó đô úy, phó trung úy: Mũ Thanh Cát, áo Thanh Cát có lót
+ Cai đội, phó cai đội, chánh đội trưởng, phó đội trưởng đã dự trông coi quân lính mà chưa có chức tước: Mũ Thanh Cát, áo Thanh Cát không lót

Ngoài ra, quy chế phẩm phục của triều Lê Trung Hưng còn có một loại mũ làm từ chất liệu Đa La, có kiểu dáng tương tự mũ Thanh Cát, Đinh Tự. Theo Thanh triều văn hiến thông khảo của nhà Thanh ghi nhận, vào lễ Triều hạ, “𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑣𝑜̃ đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎 𝑁𝑖 đ𝑜̉ 𝑐𝑎́𝑐 𝑠𝑎̆́𝑐, 𝑎́𝑜 𝑏𝑎̀𝑜 𝑡ℎ𝑢̣𝑛𝑔 𝑡𝑎𝑦 𝑙𝑎̀𝑚 𝑏𝑎̆̀𝑛𝑔 đ𝑜𝑎̣𝑛 𝑠𝑎̣̆𝑐 𝑠𝑜̛̃, 𝑎́𝑜 𝑀𝑎̃ 𝑄𝑢𝑎́𝑖 đ𝑒̂́𝑛 𝑣𝑎𝑖 (𝑐ℎ𝑖̉ 𝑎́𝑜 𝑘ℎ𝑜𝑎́𝑐 𝑛𝑔𝑜𝑎̀𝑖 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑜̂́𝑛𝑔 𝑡𝑎𝑦 𝑎́𝑜, 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑐ℎ𝑎̂́𝑚 đ𝑒̂́𝑛 𝑛𝑔𝑎𝑛𝑔 𝑣𝑎𝑖) 𝑙𝑎̀𝑚 𝑏𝑎̆̀𝑛𝑔 Đ𝑎 𝐿𝑎 𝑁𝑖 𝑚𝑎̀𝑢 đ𝑜̉. 𝐶𝑢̃𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑚𝑎̣̆𝑐 𝐵𝑜̂̉ 𝑝ℎ𝑢̣𝑐 𝑡ℎ𝑒̂𝑢 ℎ𝑖̀𝑛ℎ ℎ𝑜̂̉ 𝑏𝑎́𝑜, 𝑣𝑜𝑖.”

Tuy nhiên, theo Lê triều hội điển và Loại chí thì 𝒎𝒖̃ Đ𝒂 𝑳𝒂 𝒍𝒂̀ 𝒍𝒐𝒂̣𝒊 𝒎𝒖̃ 𝒂́𝒑 𝒅𝒖̣𝒏𝒈 𝒄𝒉𝒐 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒔𝒐̂́ 𝒉𝒂̣𝒏𝒈 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒃𝒊𝒏𝒉 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 đ𝒊̣𝒏𝒉, 𝒑𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒍𝒐̛́𝒏 𝒍𝒂̀ 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒃𝒊𝒏𝒉 𝒄𝒂̂́𝒑 𝒕𝒉𝒂̂́𝒑, không phải trang phục của quan võ nói chung như ghi nhận của Hội điển nhà Thanh. Lê triều hội điển ghi rằng, “𝑙𝑖́𝑛ℎ 𝑇ℎ𝑖̣ ℎ𝑎̣̂𝑢 𝑚𝑎̣̆𝑐 𝑎́𝑜 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎… 𝑇𝑒̂́𝑡 𝑁𝑔𝑢𝑦𝑒̂𝑛 Đ𝑎́𝑛 ℎ𝑎̆̀𝑛𝑔 𝑛𝑎̆𝑚, 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑏𝑖𝑛ℎ 𝑝ℎ𝑖𝑒̂𝑛 đ𝑒̂̀𝑢 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑎́𝑜 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎… 𝑉𝑎̀𝑜 𝑙𝑒̂̃ 𝑦𝑒̂́𝑡 đ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑁𝑎𝑚 𝐺𝑖𝑎𝑜, 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑏𝑖𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑖̣ ℎ𝑎̣̂𝑢 𝑡ℎ𝑒𝑜 ℎ𝑎̂̀𝑢 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑎́𝑜 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎, 𝑛𝑔𝑜𝑎̣𝑖 𝑏𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎, 𝑎́𝑜 𝑇ℎ𝑎𝑛ℎ 𝐶𝑎́𝑡; 𝑣𝑎̀𝑜 𝑙𝑒̂̃ 𝐷𝑖𝑒̂𝑛 𝑇ℎ𝑜̣, 𝑡𝑢̛̀ 𝑠𝑜̛́𝑚, 𝑙𝑖́𝑛ℎ 𝑡𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔 𝑚𝑎̃ 𝑣𝑎̀ 𝑙𝑖́𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑖̣ 𝑣𝑒̣̂ 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑡ℎ𝑢̛́ 𝑡𝑢̛̣ 𝑣𝑎̀𝑜 ℎ𝑎̂̀𝑢, 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑏𝑖𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑖̣ 𝑣𝑒̣̂ đ𝑒̂̀𝑢 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑚𝑢̃ 𝑎́𝑜 𝑇ℎ𝑎𝑛ℎ 𝐶𝑎́𝑡, 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑏𝑖𝑛ℎ 𝑡𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔 𝑚𝑎̃ đ𝑒̂̀𝑢 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑎́𝑜 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎.”

Lịch triều hiến chương loại chí cho biết, mỗi khi vua Lê xuất cung, đoàn Lỗ bộ đại giá đi theo được quy định: “𝑐𝑎́𝑐 𝑐𝑎̂́𝑚 𝑞𝑢𝑎̂𝑛 𝑜̛̉ 𝑛𝑜̣̂𝑖 đ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑐𝑎́𝑐 𝐻𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑡ℎ𝑖̣ 𝑘𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑡𝑦, 𝑇ℎ𝑖̣ 𝑐𝑎̣̂𝑛 𝑡𝑦, 𝑇ℎ𝑖̣ 𝑛𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑦, 𝐻𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑙𝑢̛̣𝑐 𝑡𝑦, 𝑇𝑎̉ 𝑙𝑜𝑎𝑛 𝑔𝑖𝑎́ 𝑡𝑦, 𝐻𝑢̛̃𝑢 𝑙𝑜𝑎𝑛 𝑔𝑖𝑎́ 𝑡𝑦, 𝐾𝑖𝑚 𝑛𝑔𝑜̂ 𝑣𝑒̣̂, 𝐶𝑎̂̉𝑚 𝑦 𝑣𝑒̣̂, 𝑇𝑖𝑒̂𝑛 𝑡𝑎̉ đ𝑜̣̂𝑖, 𝑇𝑖𝑒̂𝑛 ℎ𝑢̛̃𝑢 đ𝑜̣̂𝑖, 𝑚𝑢̃ 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎 đ𝑜̉, 𝑎́𝑜 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑎́𝑜 𝑇ℎ𝑎𝑛ℎ 𝐶𝑎́𝑡, 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑡𝑎𝑦 𝑟𝑜̣̂𝑛𝑔, 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑡𝑎𝑦 ℎ𝑒̣𝑝, 𝑣𝑖𝑒̂̀𝑛 đ𝑜̉ 𝑛𝑒̣𝑝 𝑡𝑟𝑎̆́𝑛𝑔, 𝑐𝑎̉ 𝑡ℎ𝑎̉𝑦 560 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖, 𝑠𝑎̆́𝑝 𝑏𝑎̀𝑦 𝑛𝑔ℎ𝑖 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔. Đ𝑜̣̂𝑖 đ𝑖 đ𝑎̂̀𝑢 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑐𝑜̛̀ 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑛𝑔𝑢𝑦𝑒̣̂𝑡, 𝑐𝑜̛̀ 𝑛𝑔𝑢̃ 𝑝ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔, 𝑐𝑜̛̀ 𝑡ℎ𝑎̣̂𝑝 𝑛ℎ𝑖̣ 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑛, 𝑐𝑜̛̀ 𝑙𝑜𝑛𝑔 𝑣𝑎̂𝑛, 𝑟𝑜̂̀𝑖 đ𝑒̂́𝑛 40 𝑔𝑎̣̂𝑦 𝑚𝑎̣ 𝑣𝑎̀𝑛𝑔, 40 𝑘𝑖𝑒̂́𝑚 𝑛𝑎̣𝑚 𝑏𝑎̣𝑐, 20 𝑐𝑜𝑛 𝑛𝑔𝑢̛̣𝑎, 𝑟𝑜̂̀𝑖 20 𝑇𝑟𝑎̂́𝑛 đ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑡𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑐𝑎̂̀𝑚 𝑑𝑢̀𝑖 𝑐𝑢̀𝑛𝑔 đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ Đ𝑎 𝐿𝑎 đ𝑜̉, 𝑚𝑎̣̆𝑐 𝑎́𝑜 𝑔𝑎̂́𝑚 𝑥𝑎𝑛ℎ, 𝐵𝑜̂̉ 𝑡𝑢̛̉ 𝑣𝑜𝑖, 𝑑𝑢̛𝑜̛́𝑖 𝑐𝑜́ 𝑏𝑖́𝑡 𝑡𝑎̂́𝑡 𝑐ℎ𝑒 đ𝑎̂̀𝑢 𝑔𝑜̂́𝑖”

Chỉ Nam ngọc âm giải thích: “Áo g*i là La Đà Ni”. 𝑪𝒂́𝒄 𝒕𝒖̛̀ Đ𝒂 𝑳𝒂, Đ𝒂 𝑳𝒂 𝑵𝒊 𝒉𝒂𝒚 𝑳𝒂 Đ𝒂̀ 𝑵𝒊 𝒕𝒉𝒖̛̣𝒄 𝒄𝒉𝒂̂́𝒕 đ𝒆̂̀𝒖 𝒄𝒉𝒊̉ 𝒄𝒖̀𝒏𝒈 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒍𝒐𝒂̣𝒊 𝒗𝒂̉𝒊 𝒈𝒂𝒊, 𝒑𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒍𝒐̛́𝒏 𝒄𝒐́ 𝒎𝒂̀𝒖 𝒙𝒂𝒏𝒉 𝒗𝒂̀ đ𝒐̉. Kết hợp các ghi chép trên với tư liệu tranh tượng hiện còn, có thể khẳng định, mũ Đa La, Thanh Cát đều có kiểu dáng như mũ Đinh Tự. Mũ Đa La được gọi là Đa La là bởi được làm từ chất liệu “đa la”, tương tự trường hợp của mũ Thanh Cát. Mũ Thanh Cát được làm bằng vải Thanh Cát màu đen nên Phạm Đình Hổ xếp vào dạng mũ thứ ba của mũ Đinh Tự. Trang phục mũ Đa La có thể kết hợp với áo Đa La, cũng có thể kết hợp với áo Thanh Cát, áo gấm xanh.

Các loại áo này phần lớn có kiểu giao lĩnh, song cũng có loại áo cổ tròn cộc tay tương tự áo Mã Quái như miêu tả của Thanh triều văn hiến thông khảo.

𝐋𝐔̛𝐎̛𝐍𝐆 𝐂𝐀̂𝐍, 𝐘𝐄̂́𝐍 𝐕𝐈̃ 涼巾、燕尾

Tham tụng Nguyễn Công Hãng nhận thấy “𝑡𝑢̛̀ 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 𝑇𝑟𝑢𝑛𝑔 𝐻𝑢̛𝑛𝑔 𝑣𝑒̂̀ 𝑠𝑎𝑢, 𝑝ℎ𝑎̂̉𝑚 𝑝ℎ𝑢̣𝑐 𝑐ℎ𝑢̛𝑎 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑐ℎ𝑖́𝑛ℎ đ𝑎́𝑛𝑔, 𝑘ℎ𝑖 đ𝑖 𝑠𝑢̛́ 𝑙𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑝ℎ𝑜̉𝑛𝑔 𝑡𝑖̀𝑚 𝑞𝑢𝑦 𝑐ℎ𝑒̂́ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝑀𝑖𝑛ℎ đ𝑒𝑚 𝑣𝑒̂̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐, đ𝑒̂́𝑛 𝑘ℎ𝑖 𝑙𝑎̀𝑚 𝑡𝑒̂̉ 𝑡𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔, đ𝑖̣𝑛ℎ 𝑙𝑎̣𝑖 𝑝ℎ𝑎̂̉𝑚 𝑝ℎ𝑢̣𝑐”, theo đó quy định: “𝒀𝒆̂́𝒏 𝒑𝒉𝒖̣𝒄, 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒗𝒂̆𝒏 đ𝒐̣̂𝒊 𝑳𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝑪𝒂̂𝒏, 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒗𝒐̃ đ𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒖̃ 𝒀𝒆̂́𝒏 𝑽𝒊̃, 𝒂́𝒐 𝑻𝒉𝒂𝒏𝒉 𝑪𝒂́𝒕 𝒄𝒐́ 𝒑𝒉𝒖́ 𝒉𝒂̣̂𝒖, 𝒕𝒉𝒖̛́ đ𝒆̂́𝒏 𝒍𝒂̀ 𝒎𝒖̃ Đ𝒊𝒏𝒉 𝑻𝒖̛̣ 𝒌𝒆̂́𝒕 𝒉𝒐̛̣𝒑 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒂́𝒐 𝒄𝒐́ 𝒍𝒐́𝒕.”

Tang thương ngẫu lục nhận định Lương Cân và Yến Vĩ là mũ Yến phục, cũng tức là Tiện phục. Song trên thực tế đây cũng là trang phục bá quan mặc khi vào hầu chúa. Vũ trung tùy bút còn cho biết, Nguyễn Khản và chúa Trịnh Sâm là bạn áo vải, khi chúa lên ngôi (năm 1765), mỗi khi nghe hát, đều lệnh cho Nguyễn Khản ngồi hầu, ông đội Lương Cân, mặc Tiện phục, ngồi tựa giường ngự, cầm chầu điểm hát.

Ngoài ra, các sách Cương mục, Loại chí, Đại Việt sử ký tục biên, Lịch triều tạp kỷ, Vũ trung tùy bút và Tang thương ngẫu lục đều ghi nhận việc tể thần Nguyễn Công Hãng chế ra các loại mũ dành cho bá quan văn võ. Song Cương mục, Loại chí, Đại Việt sử ký tục biên đều gọi mũ Lương Cân là 𝐦𝐮̃ 𝐓𝐫𝐮̀𝐧𝐠 𝐃𝐢𝐞̣̂𝐩, mũ Yến Vĩ là 𝐦𝐮̃ Đ𝐨̛𝐧 𝐃𝐢𝐞̣̂𝐩, riêng Cương mục còn dẫn lời Ngô Thì Sĩ cho biết: “𝑵𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒏𝒂̆𝒎 𝑩𝒂̉𝒐 𝑻𝒉𝒂́𝒊 (1720-1729) 𝒄𝒖̉𝒂 𝒃𝒂̉𝒏 𝒕𝒓𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒎𝒐̛́𝒊 đ𝒂̣̆𝒕 𝒓𝒂 𝒒𝒖𝒚 𝒄𝒉𝒆̂́ 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒗𝒐̃ đ𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒖̃ Đ𝒐̛𝒏 𝑫𝒊𝒆̣̂𝒑, 𝒒𝒖𝒂𝒏 𝒗𝒂̆𝒏 đ𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒖̃ 𝑻𝒓𝒖̀𝒏𝒈 𝑫𝒊𝒆̣̂𝒑 […] 𝑻𝒆̂̉ 𝒕𝒉𝒂̂̀𝒏 𝑵𝒈𝒖𝒚𝒆̂̃𝒏 𝑪𝒐̂𝒏𝒈 𝑯𝒂̃𝒏𝒈 𝒄𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒕𝒖̛̣ 𝒕𝒉𝒆𝒐 𝒕𝒖̛̣ 𝒅𝒂̣𝒏𝒈 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒉𝒖̛̃ 𝑽𝒂̆𝒏, 𝒄𝒉𝒖̛̃ 𝑽𝒐̃ 𝒎𝒂̀ 𝒄𝒉𝒆̂́ 𝒓𝒂 𝒉𝒂𝒊 𝒍𝒐𝒂̣𝒊 𝒎𝒖̃ 𝒏𝒂̀𝒚.” Phạm Đình Hổ giải thích “𝐋𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐂𝐚̂𝐧 𝐥𝐚̀ 𝐦𝐮̃ 𝐥𝐚́”, “𝐘𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢̃ 𝐜𝐚̂𝐧 𝐥𝐚̀ 𝐦𝐮̃ đ𝐮𝐨̂𝐢 𝐞́𝐧”.

Mục Tang nghi, Tang phục trong Lễ nghi chí, Phan Huy Chú cho biết, khi có quốc tang, phàm mũ bằng sa đoạn Bắc, mũ Lương Cân và mũ Yến Vĩ lục lăng đều theo dạng thức mà làm bằng sa đen Nam, không làm hoa màu lòe loẹt. Chúng tôi cho rằng Yến Vĩ lục lăng chính là mũ Yến Vĩ.

Tóm lại, có thể thấy mũ Lương Cân và Yến Vĩ do tham tụng Nguyễn Công Hãng chế tạo sau khi tham khảo quy chế của nhà Minh, trong đó mũ 𝑳𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝑪𝒂̂𝒏 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝒉𝒊̀𝒏𝒉 𝒄𝒉𝒖̛̃ 𝑽𝒂̆𝒏, 𝒄𝒐́ 𝒉𝒂𝒊 𝒍𝒂́ 𝒄𝒉𝒆̃ 𝒔𝒂𝒏𝒈 𝒉𝒂𝒊 𝒃𝒆̂𝒏 𝒏𝒆̂𝒏 𝒄𝒐̀𝒏 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒈𝒐̣𝒊 𝒍𝒂̀ 𝑻𝒓𝒖̀𝒏𝒈 𝑫𝒊𝒆̣̂𝒑 (𝒍𝒂́ 𝒌𝒆́𝒑), 𝒎𝒖̃ 𝒀𝒆̂́𝒏 𝑽𝒊̃ 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝒉𝒊̀𝒏𝒉 𝒄𝒉𝒖̛̃ 𝑽𝒐̃, 𝒄𝒉𝒊̉ 𝒄𝒐́ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒍𝒂́ 𝒑𝒉𝒊́𝒂 𝒔𝒂𝒖 𝒎𝒖̃ 𝒕𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝒕𝒖̛̣ 𝒉𝒊̀𝒏𝒉 đ𝒖𝒐̂𝒊 𝒆́𝒏 𝒏𝒆̂𝒏 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 𝒈𝒐̣𝒊 𝒍𝒂̀ Đ𝒐̛𝒏 𝑫𝒊𝒆̣̂𝒑 (𝒍𝒂́ đ𝒐̛𝒏), 𝒕𝒉𝒂̂𝒏 𝒎𝒖̃ 𝒄𝒐́ 𝒅𝒂̣𝒏𝒈 𝒍𝒖̣𝒄 𝒍𝒂̆𝒏𝒈. Chúng tôi cho rằng loại mũ Lương Cân có từ thời Lê sơ mà vua Lê Thánh Tông từng cấm dân gian chế tạo cũng như mũ Lương Cân đen áp dụng làm Triều phục cho hoàng tử, vương tử chưa được phong tước, với loại mũ Lương Cân phỏng hình dạng chữ Văn do Tham tụng Nguyễn Công Hãng chế ra là hai loại mũ khác nhau. Với cứ liệu hiện có, chưa xác định được hình dáng cụ thể của các loại mũ này, nên ở đây đành để lại dưới dạng tồn nghi, chờ khảo cứu về sau.
*Nguồn: sách Ngàn năm áo mũ (Trần Quang Đức)

𝐓𝐑𝐎̀ 𝐗𝐔𝐀̂𝐍 𝐏𝐇𝐀̉ - 𝐝𝐢 𝐬𝐚̉𝐧 đ𝐨̣̂𝐜 đ𝐚́𝐨 𝐭𝐮̛̀ 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 Đ𝐢𝐧𝐡, 𝐫𝐮̛̣𝐜 𝐫𝐨̛̃ 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐇𝐚̣̂𝐮 𝐋𝐞̂Sự xuất hiện của chiếc mặt nạ gỗ trong...
09/06/2026

𝐓𝐑𝐎̀ 𝐗𝐔𝐀̂𝐍 𝐏𝐇𝐀̉ - 𝐝𝐢 𝐬𝐚̉𝐧 đ𝐨̣̂𝐜 đ𝐚́𝐨 𝐭𝐮̛̀ 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 Đ𝐢𝐧𝐡, 𝐫𝐮̛̣𝐜 𝐫𝐨̛̃ 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐇𝐚̣̂𝐮 𝐋𝐞̂
Sự xuất hiện của chiếc mặt nạ gỗ trong MV Come My Way của Sơn Tùng M-TP dạo gần đây đã khơi dậy niềm tò mò lớn trong giới trẻ về Trò Xuân Phả - một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia có tuổi đời hơn 1.000 năm tại Thanh Hóa.

“𝐗𝐔𝐀̂𝐍 𝐏𝐇𝐀̉” 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐥𝐚̀...
Làng Xuân Phả nay thuộc xã Thọ Xuân, tỉnh Thanh hóa. Xưa kia nơi này là vùng đất rộng lớn nhưng trũng quanh năm, nước mênh mông như hồ lớn người ta gọi đó là cái “Phả”
Cái tên làng Xuân Phả có ý nghĩa: làng Xuân Phả như viên ngọc quý nổi lên giữa vùng nước mênh mông, lúc nào cỏ cây cũng tươi tốt hoa lá cũng ngát thơm như mùa xuân.

𝐇𝐎̣̂𝐈 𝐓𝐑𝐎̀ 𝐗𝐔𝐀̂𝐍 𝐏𝐇𝐀̉
Hằng năm làng Xuân Phả mở hội hội rước thành hoàng làng vào ngày 10 tháng 2 âm lịch. Đây là đại với quy mô lớn, các hình thức hội vô cùng phong phú, tiêu biểu là múa Trò Xuân Phả do các giáp trong làng biểu diễn.

Múa Trò Xuân Phả hay còn gọi là “5 điệu múa ngũ quốc” nói về 𝐧𝐚̆𝐦 𝐪𝐮𝐨̂́𝐜 𝐠𝐢𝐚 đ𝐞̂́𝐧 𝐜𝐡𝐮́𝐜 𝐦𝐮̛̀𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐚̀ 𝐯𝐮𝐚 𝐬𝐚𝐮 𝐤𝐡𝐢 𝐤𝐡𝐚̉𝐢 𝐡𝐨𝐚̀𝐧, là một di sản quý của xứ Thanh, một tổ hợp múa độc nhất vô nhị chỉ tồn tại ở làng Xuân Phả, xã Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đ𝐈𝐄̣̂𝐔 𝐌𝐔́𝐀 𝐭𝐮̛̀ 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 Đ𝐈𝐍𝐇
Tương truyền vào thời Đinh, trước khi đánh giặc ngoại xâm, nhà vua cầu khấn thần linh phù trợ. Sau đó xuất hiện một vị thần tự xưng là Đại Hải Long Vương, giúp quân dân đánh thắng giặc. Để tạ ơn thần, nhà vua mở hội ăn mừng chiến thắng. Trong dịp ấy, năm đoàn sứ giả từ năm phương xa đã đến chúc mừng triều đình bằng những điệu múa và âm nhạc riêng của họ. Người dân Xuân Phả về sau đã tái hiện lại cảnh tượng ấy thành một trò diễn dân gian lưu truyền suốt nhiều thế kỷ.

𝐍𝐀̆𝐌 Đ𝐈𝐄̣̂𝐔 𝐌𝐔́𝐀, 𝐍𝐀̆𝐌 𝐐𝐔𝐎̂́𝐂 𝐆𝐈𝐀 𝐓𝐈𝐄̂́𝐍 𝐂𝐎̂́𝐍𝐆
5 điệu múa trò đó là: Hoa Lang, Tú Huần (Lục Hồn Nhung), Ai Lao, Ngô Quốc và Xiêm Thành (Chiêm Thành). Trò Xuân Phả còn có tên gọi khác là "Lân Bang Ngũ Quốc Đồ Tiến Cống" là một tổ hợp hát múa dân gian đặc sắc, có nguồn gốc cung đình.
Theo trình tự đã quy định, sau lễ tế Thành hoàng Đại Hải Long Vương và chạy giải, ngày mùng 10 các con trò trình diễn trò Hoa Lang, Ai Lao, Tú Huần và sang ngày 11 diễn trò Chiêm Thành và Ngô Quốc.

Với đ𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐇𝐨𝐚 𝐋𝐚𝐧𝐠, đi đầu là con kỳ lân, thực ra giống con thủy quái ở biển, múa sát đất như bơi lội. Đoàn người Hoa Lang có cô gái Việt ra đón tiếp với các nhân vật ông Chúa, mế nàng và 10 quân. Trang phục gồm áo dài, đầu đội mũ cao da bò, tay cầm quạt và mái chèo, đeo mặt nạ cũng làm bằng da bò phết sơn trắng, mắt có lông công. Mũ Chúa được chạm rồng, chạm mặt nguyệt. Ông Chúa và quân tay đeo hoa giấy ngũ sắc, cầm khăn đỏ, đôi quạt, chân đi bít tất, bỏ quần dài. Ngựa hai con đan bằng nứa bịt giấy lồng vào người múa. Đoàn người vừa múa, vừa hát: …”𝑻𝒓𝒐̀ 𝒕𝒐̂𝒊 𝒐̛̉ 𝒃𝒆̂𝒏 𝑯𝒐𝒂 𝑳𝒂𝒏𝒈 𝑻𝒐̂𝒊 𝒏𝒈𝒉𝒆 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉 đ𝒖̛́𝒄 𝒕𝒐̂𝒊 𝒔𝒂𝒏𝒈 𝒄𝒉𝒆̀𝒐 𝒄𝒉𝒂̂̀𝒖 …𝑪𝒉𝒖́𝒄 𝒎𝒖̛̀𝒏𝒈 𝒕𝒖𝒐̂̉𝒊 𝒗𝒖𝒂 𝒗𝒂̣𝒏 𝒏𝒊𝒆̂𝒏 𝑵𝒈𝒂𝒊 𝒓𝒐̂̀𝒏𝒈 𝒏𝒈𝒖̛̣ 𝒕𝒓𝒊̣ 𝒅𝒂̂𝒏 𝒚𝒆̂𝒏 𝒕𝒉𝒂́𝒊 𝒉𝒐̀𝒂.” Kết thúc trò là điệu múa chèo thuyền, đoàn người vượt biển đến tiến cống rồi trở ra biển để tiếp tục cuộc hành trình.

Đ𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐀𝐢 𝐋𝐚𝐨, thể hiện đoàn vương quốc Vạn tượng xưa do đích thân vua vào chúc mừng. Đi đầu là voi và hổ múa cùng những người thợ săn theo tiếng xênh tre gõ nhịp liên hồi. Vua Ai Lao đầu đội mũ cánh chuồn, mặc áo chàm xanh, tuổi già đường xa nên có người theo sau đấm lưng. 10 quân (hai người sau cùng gánh cỏ cho voi) đội mũ rễ si, quấn phá ngang vai, chân mang xà cạp và tay cầm xênh tre xếp thành hai hàng với những điệu múa mô phỏng việc săn bắn hái lượm rất uyển chuyển.

Đ𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐓𝐮́ 𝐇𝐮𝐚̂̀𝐧 còn gọi là 𝐋𝐮̣𝐜 𝐇𝐨̂̀𝐧 𝐍𝐡𝐮𝐧𝐠, trang phục trò Tú Huần đầu đội mũ làm từ tre, đeo mặt nạ gỗ miêu tả bà cố, mẹ và 10 người con. Mũ tre đan như rế nồi úp ngược, có lạt tre làm tóc bạc, đội trên miếng khăn vuông vải đỏ bịt đầu tóc. Mặt nạ gỗ sơn trắng vẽ mắt mồm màu đen rất "kinh dị". Mặt bà cố nhăn nheo, mặt người mẹ thì già nua còn 10 người con được chia thành 5 cặp, mặt vẽ theo độ tuổi từ trẻ đến già với 1,2..5 cái răng.
Vào Nghinh môn đoàn trò vẫn đứng trong màn quây. Nghe hồi trống, màn quây mở đoàn trò lộ ra với hai hàng dọc. Cụ cố già cổ đeo túi trầu, người hầu bên cạnh cầm quạt, lượn hai vòng quanh sân nghè, vái chào rồi đi vào. Đoàn trò vào sân nghè, bà mẹ gõ xênh nhảy theo nhịp ba, gần ban thờ, quỳ vái, đứng dậy nhảy lùi xuống. Theo nhịp trống, 10 con chia thành từng đôi, xếp hai hàng, tiến lùi theo mẹ, mỗi lần nhảy lại hú lên, khi hát thì xoạc chân chèo, và gõ phách theo nhịp múa.

Đ𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐂𝐡𝐢𝐞̂𝐦 𝐓𝐡𝐚̀𝐧𝐡, thể hiện đoàn sứ của vương quốc Champa tới chúc mừng, gồm có ông Chúa, bà Nàng, một người hầu, hai phỗng hầu, và 16 quân. Áo chúa bằng đậu, áo quân bằng lụa, đều nhuộm màu đỏ hồng và không thêu thùa hoa văn. Chúa và quân vấn khăn vuông đỏ thành hai sừng thẳng đứng trên đầu. Áo phỗng là cổ sòi, cổ xiêm quấn xung quanh mình. Sau khi Chúa đọc văn tế và hai phỗng dâng hương đoàn quân, ngậm mặt nạ gỗ kỳ dị, bắt đầu nhảy múa thành hai hàng. Khi đứng, khi quỳ khụy, các tư thế chuyển nhanh và cương hoạch như các thế võ, các thế tay vặn ngược không khác gì các tư thế trong các tượng Chàm cổ xưa.

Đ𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐍𝐠𝐨̂ 𝐐𝐮𝐨̂́𝐜 chính là đoàn múa của người Trung Hoa. Nhân vật trong trò này có hai nàng tiên, ông chúa và mười quân đầu đội nón lính, áo màu lam, tay cầm mái chèo ăn mặc như người Mãn Thanh. Mở đầu xuất hiện nhân vật người bán thuốc, người bán kẹo và thầy địa lý. Lang y mặc theo lối khách Tàu, đi giày Tàu, cầm dao cầu và đeo rương thuốc nhỏ. Thầy địa lý áo khách màu xanh, tay cầm la bàn, đeo khăn gói đỏ. Anh bán kẹo mặc áo khách xanh, có sàng đeo ở cổ, trong sàng bày bát đĩa, 4 con xúc sắc, mấy đồng tiền, mấy cái kẹo, họ múa một đoạn ngẫu hứng rồi nhường chỗ cho các nàng tiên cùng chúa và đoàn quân đi ra. Màn diễn gồm các điệu múa quạt, múa khăn rồi múa mái chèo. Kết thúc trò cũng là điệu chèo thuyền với lời ca lưu luyến: … “𝑴𝒐̣̂𝒕 đ𝒆̂𝒎 𝒄𝒐́ 𝒏𝒂̆𝒎 𝒕𝒓𝒐̂́𝒏𝒈 𝒄𝒂𝒏𝒉. 𝑻𝒆̂𝒎 𝒕𝒓𝒂̂̀𝒖 𝒒𝒖𝒂̂́𝒏 𝒕𝒉𝒖𝒐̂́𝒄 𝒄𝒖̀𝒏𝒈 𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒂̀. 𝑵𝒂̆𝒎 𝒕𝒓𝒐̂́𝒏𝒈 𝒄𝒂𝒏𝒉 𝒂𝒏𝒉 𝒏𝒈𝒖̉ 𝒄𝒐́ 𝒃𝒂. 𝑪𝒐̀𝒏 𝒉𝒂𝒊 𝒄𝒂𝒏𝒉 𝒏𝒖̛̃𝒂 𝒂𝒏𝒉 𝒓𝒂 𝒕𝒓𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒓𝒐̛̀𝒊. 𝑮𝒊𝒐́ 𝒕𝒂̆𝒎 𝒕𝒂̆́𝒑 𝒃𝒖𝒐̂̀𝒎 𝒄𝒉𝒂̣𝒚 𝒓𝒂 𝒌𝒉𝒐̛𝒊. 𝑪𝒉𝒂̀𝒏𝒈 𝒗𝒆̂̀ 𝑩𝒂̆́𝒄 𝒒𝒖𝒐̂́𝒄, 𝒆𝒎 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝑨𝒏 𝑵𝒂𝒎. 𝑴𝒖̛𝒂 đ𝒂̂𝒖 𝒄𝒉𝒐̛́𝒑 đ𝒂̂́𝒚 𝒄𝒉𝒐 𝒄𝒂𝒎. 𝑴𝒖̛𝒂 𝒒𝒖𝒂 𝒕𝒉𝒂̀𝒏𝒉 𝑳𝒂̣𝒏𝒈 𝒄𝒉𝒐̛́𝒑 𝒏𝒈𝒂̀𝒏 𝒎𝒂̂𝒚 𝒙𝒂𝒏𝒉…”

Trong năm điệu múa, thì chỉ 𝐛𝐚 đ𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐂𝐡𝐢𝐞̂𝐦 𝐓𝐡𝐚̀𝐧𝐡, 𝐇𝐨𝐚 𝐋𝐚𝐧𝐠 𝐯𝐚̀ 𝐓𝐮́ 𝐇𝐮𝐚̂̀𝐧 𝐜𝐨́ 𝐦𝐚̣̆𝐭 𝐧𝐚̣, đặc biệt trò Chiêm Thành và Hoa Lang người múa không đeo, mà ngậm mặt nạ nửa mặt bởi một chột gỗ vào miệng. Điệu Tú Huần, Hoa Lang và Ngô Quốc có bài hát, và riêng hai đoàn Hoa Lang và Ngô Quốc có nữ là người Việt ra tiếp đón.

𝐋𝐎̛̀𝐈 𝐂𝐀, Đ𝐈𝐄̣̂𝐔 𝐌𝐔́𝐀 Đ𝐀̣̂𝐌 𝐂𝐇𝐀̂́𝐓 𝐕𝐈𝐄̣̂𝐓
Trò Xuân Phả khởi đầu là nghệ thuật múa và hát lại mang đậm yếu tố cung đình và về sau đã được dân gian hoá. Có thể thấy sự “dân gia hóa” qua lời ca, điệu múa, động tác.
“𝐶𝑎́𝑐 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑡𝑎, 𝑡𝑎 𝑏𝑎̆́𝑡 𝑚𝑎́𝑖 𝑙𝑒̂𝑛, 𝑡𝑎 𝑐ℎ𝑒̀𝑜 𝑖́ 𝑎 𝑐ℎ𝑜 đ𝑒̂̀𝑢, đ𝑜̂́ 𝑎𝑖 𝑏𝑎̆́𝑡 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑚𝑎̀ 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑙𝑎́𝑖 𝑛𝑎̀𝑦, 𝑖́ 𝑘ℎ𝑜𝑎𝑛 ℎ𝑜̀ 𝑘ℎ𝑜𝑎𝑛.
𝑇𝑎 𝑘𝑒́𝑜 𝑡ℎ𝑢𝑦̀𝑒𝑛 𝑣𝑎𝑜 𝑡𝑎 đ𝑎̂̉𝑦 𝑡ℎ𝑢𝑦𝑒̂̀𝑛 𝑙𝑒̂𝑛”

Những lời ca, hò đậm chất hò sông Mã, nhạc của trò cũng chủ yếu là dùng bộ gõ, tiết tấu lơi nhịp. Những động tác cơ bản từ dân gian như động tác sinh hoat hàng ngày: chèo thuyền, giã trầu, múa quạt...được nghệ thuật hóa lên, nhiều động tác dường như là động tác trong nghệ thuật chèo, tuồng được cách điệu hóa.
𝑇𝑢́ 𝐻𝑢𝑎̂̀𝑛 𝑘𝑖𝑎 ℎ𝑜̛̃𝑖 𝑡𝑢́ 𝐻𝑢𝑎̂̀𝑛
𝑀𝑒̣ đ𝑖 đ𝑎́𝑛ℎ 𝑡𝑟𝑜̂́𝑛𝑔 𝑙𝑎̂́𝑦 𝑝ℎ𝑎̂̀𝑛 𝑐𝑜𝑛 𝑎̆𝑛
𝐴̆𝑛 𝑟𝑜̂̀𝑖 𝑐𝑜𝑛 𝑙𝑎̣𝑖 𝑔𝑖𝑢̛̃ 𝑛ℎ𝑎̀
𝑀𝑒̣ đ𝑖 đ𝑎́𝑛ℎ 𝑡𝑟𝑜̂́𝑛𝑔 𝑔𝑖𝑢̛̃ 𝑐ℎ𝑎 𝑐𝑜𝑛 𝑣𝑒̂̀

𝐶ℎ𝑎̣𝑦 𝑔𝑖𝑎̉𝑖 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑐𝑜́ 𝑚𝑢̛𝑜̛̀𝑖 ℎ𝑎𝑖
𝐺𝑎́𝑖 𝑡𝑜̂𝑖 ℎ𝑎𝑖 𝑚𝑢̛𝑜̛𝑖 𝑏𝑜̂́𝑛, 𝑡ℎ𝑖 𝑡𝑎̀𝑖 𝑐ℎ𝑒̀𝑜 𝑏𝑜̛𝑖
𝑇ℎ𝑢𝑦𝑒̂̀𝑛 𝑟𝑜̂̀𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑒̀𝑜 𝑔𝑖𝑢̛̃𝑎 𝑠𝑎̂𝑛 𝑟𝑜̂̀𝑛𝑔
𝑇𝑎 𝑐ℎ𝑒̀𝑜 𝑐ℎ𝑜 𝑡𝑜̛́𝑖 𝑛𝑜𝑛 𝑏𝑜̂̀𝑛𝑔 ℎ𝑎́𝑖 ℎ𝑜𝑎
Đ𝑎̂̀𝑢 𝑛𝑎̆𝑚 𝑐𝑎 𝑥𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 đ𝑎̃ 𝑞𝑢𝑎
𝑇ℎ𝑎́𝑛𝑔 2 𝑡𝑎 𝑙𝑎̣𝑖 𝑡𝑟𝑖̀𝑛ℎ 𝑟𝑎 𝑘ℎ𝑜̂𝑖 ℎ𝑎̀𝑖..
𝐵𝑎̣̂𝑛 𝑣𝑖̀ 𝑂, 𝑏𝑜̂́𝑖 𝑟𝑜̂́𝑖 𝑣𝑖̀ 𝑂
𝑀𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑙𝑎̆𝑚, 𝑚𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑡𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑜 𝑡ℎ𝑜̂𝑛𝑔 ℎ𝑎̀𝑛ℎ
𝐶ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑜 𝑒𝑚 𝑏𝑒́𝑛 𝑑𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑎𝑛ℎ,
𝑇𝑖́𝑛ℎ 𝑡𝑎𝑛𝑔 𝑡𝑖̀𝑛ℎ...
𝐶𝑎̂𝑦 𝑔𝑜̂̃ 𝑙𝑖𝑚 𝑐ℎ𝑖̀𝑚
Đ𝑒𝑚 𝑛𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑐𝑜̣̂𝑡 𝑑𝑜̣𝑐 𝑐ℎ𝑜 𝑏𝑖̀𝑚 𝑛𝑜́ 𝑙𝑒𝑜

…𝐑𝐔̛̣𝐂 𝐑𝐎̛̃ 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐇𝐀̣̂𝐔 𝐋𝐄̂
Qua khảo sát các trò diễn trên đất tỉnh Thanh và những địa phương còn lưu giữ các trò diễn với những nét khá tương đồng với làng Xuân Phả cho thấy, 𝒕𝒓𝒐̀ 𝑿𝒖𝒂̂𝒏 𝑷𝒉𝒂̉ 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝑳𝒆̂ 𝑺𝒐̛ 𝒄𝒐́ 𝒃𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒑𝒉𝒂́𝒕 𝒕𝒓𝒊𝒆̂̉𝒏 𝒌𝒉𝒂́ 𝒉𝒐𝒂̀𝒏 𝒕𝒉𝒊𝒆̣̂𝒏, 𝒃𝒐̂̉ 𝒔𝒖𝒏𝒈 và in dấu cho đến tận hôm nay. Trò Xuân Phả mang đậm dấu ấn của lịch sử và đời sống xã hội thời Lê sơ điều đó hoàn toàn có căn cứ.

Về sự xuất hiện của hệ thống trò Xuân Phả và sự lan toả của trò này ở một số địa phương, nhà nghiên cứu lịch sử và văn hoá Phan Bảo ở thành phố Thanh Hoá và một số người khác cho rằng: múa "Ngũ quốc đồ tiến cống" là do ông Trịnh Quý Thuật, con thứ chín của ông Trịnh Khả - công thần cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đem về Xuân Phả, ông Nguyễn Mộng Tuân, vị quan thời Lê Sơ đã truyền dạy trò cho làng Viên Khê, Đông Sơn. Như vậy, số trò trong múa Ngũ quốc về cơ bản có từ thế kỷ XV, song có trò mãi tới thế kỷ XVII mới xuất hiện như trò Hoa Lang (Hà Lan). Chỉ vào thời 𝐋𝐞̂ 𝐓𝐫𝐮𝐧𝐠 𝐡𝐮̛𝐧𝐠
mới có các thương thuyền Hà Lan đến quan hệ với đàng Ngoài, chính vua Lê Thần Tông vì tình hòa hiếu giao hảo giữa Đại Việt và vương quốc Hà Lan, đã kết hôn với bà vợ là người Hà Lan. Trò Xuân Phả hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình hội lễ và lịch sử, trong đó điệu múa Lục hồn Nhung và hai điệu Chiêm Thành, Ai Lao có lẽ cổ xưa nhất.

Thông điệp của người xưa gửi lại cho thế hệ muôn sau còn in rõ trên Lam Sơn Vĩnh Lăng Bi (Bia Vĩnh Lăng, Lam Sơn) là tấm bia thời Lê sơ ở lăng vua Lê Thái Tổ xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Văn bia do anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi soạn thảo vào năm Thuận Thiên thứ 6 (1433), ngay sau khi vua Lê Lợi qua đời và được táng ở Vĩnh Lăng. Sau chiến thắng quân Minh uy thế của nước Đại Việt được các nước lân bang nể phục: "Hai nước từ đó thông sứ hòa hảo. Nam, Bắc yên việc. Mang Lễ, Ai Lao, đều vào bản đồ. Chiêm Thành, Đồ Bà, vượt bể đến cống". Lãnh thổ được mở rộng qua việc sát nhập vùng Mường Lễ, Ai Lao (vùng Thanh Hóa, Nghệ An giáp với Lào) và đặc biệt một số nước trong khu vực như Chiêm Thành, Đồ Bà (Có lẽ là Java thuộc Indonesia ngày nay) đều cho tàu thuyền sang cống nạp. Hai nước Trung Hoa và Đại Việt từ đó thông hảo, Bắc Nam yên ổn.

Sự kiện ghi trên văn bia chính là vương triều Lê Sơ với người đứng đầu là Lê Thái Tổ sau khi khải hoàn, khẳng định vị thế và vai trò của nền quân chủ phong kiến sau khi giành lại nền tự chủ. Sau thắng lợi của sự nghiệp bình Ngô, vương triều hậu Lê được thiết lập, Lê Thái Tổ cho xây Lam Kinh quê cha, đất tổ với nhiều công trình lớn như cung điện, sân rồng, ngọc hồ, lăng miếu… Hàng năm, các vua cùng tôn thất, hoàng thân quốc thích, các đại thần về Lam Kinh giỗ tổ, tế lễ các tiên vương. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, chính hoàng đế Thái Tông “tưởng nhớ công lao của tiền bối, sáng tác điệu vũ bình Ngô”. Tài liệu ghi chép về lễ hội Lam Kinh không nhiều, nhưng cho biết, tại đây vũ khúc “Bình ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều” đã được trình diễn ít nhất hai lần.

𝐘́ 𝐍𝐆𝐇𝐈̃𝐀

Trò Xuân Phả phản ánh một thời kỳ hưng thịnh của vương triều Lê sơ sau cuộc kháng Minh thắng lợi, ca khúc khải hoàn. Trò Hoa Lang (Hà Lan) diễn tả người Hoa Lang sang cống tiến vua Lê; Trò Tú Huần mô phỏng hình dáng của một tộc người tới từ hải đảo xa xôi; Trò Ai Lao, trò Ngô cũng mang sắc phục của các nước lân bang sang cống tiến vua Đại Việt, vì vậy trò Xuân Phả chính là thông điệp về sự giao hảo của quốc gia độc lập tự chủ với các nước trong khu vực và vị thế của Đại Việt thời bấy giờ khiến cho "lân bang ngũ quốc đồ tiến cống". Theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu, trò Xuân Phả gần giống với điệu Cheoyongmu (múa mặt nạ) của người Hàn Quốc hay một “lễ hội hóa trang” của người phương Tây.

Trò Xuân Phả là ảnh xạ của lịch sử về việc tiến cống, chào mừng của những nước lân bang và thể hiện khát vọng độc lập tự chủ, hùng cường Đại Việt. Tích trò và nội dung của năm điệu múa làng Láng chính là hồn cốt của dân tộc, thông qua lời ca và những điệu múa cổ chứa đựng những thông tin của một thời đã qua, phản ánh quá khứ hào hùng, vị thế của quốc gia và sự bang giao của người Việt với các nước trong khu vực và quốc tế./.

Address

Số 8, Ngõ 197 Đinh Tiên Hoàng
Ninh Bình
08000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoa Lư Legacy posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share