10/04/2024
[VÌ SAO CON NGƯỜI LUÔN BỊ ÁM ẢNH KỂ CẢ NHỮNG ĐIỀU VÔ NGHĨA?]
____________________________________
Tôi có thói quen khá kỳ lạ nếu không nói là khác người, khi bản thân luôn cho mình những quy chuẩn không cần thiết (mà tôi nghĩ nhiều người cũng như thế). Tôi có xu hướng sắp xếp mọi thứ thật gọn gàng, ngăn nắp. Chiếc bút luôn là thứ có sức hút với tôi, sắp xếp theo đúng thứ tự kích thước từ cao đến thấp. Quyển sổ tay luôn được đặt cẩn thận ở phía bên trái góc bàn sao cho hai mép nằm khớp với cạnh bàn và vuông vức với góc bàn (1). Những điều này giúp tôi tìm thấy sự thoải mái nhất định, tuy biết rằng “sự bừa bộn có thể kích thích sự sáng tạo” (2)
Những điều bản thân cho là vô lý cứ xảy ra xung quanh tôi, khiến tôi phải đặt dấu hỏi lớn về những việc làm mà đôi lúc chính bản thân tôi còn thấy là vô nghĩa.
Tôi đã dành không ít thời gian để tìm lời giải thích cho câu hỏi của bản thân, và nhận ra những điều đó được các nhà nghiên cứu, nhà tâm lý học chẩn đoán như một căn bệnh tâm lý gọi là OCD - Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive-Compulsive Disorder). Căn bệnh tâm lý OCD được hiểu đơn giản là tình trạng một người thường xuyên phải chịu đựng những ý nghĩ xâm lấn (intrusive thoughts), hình ảnh hoặc thôi thúc nảy sinh trái ý muốn, được gọi chung là nỗi ám ảnh (obsession). Ám ảnh đa phần là tiêu cực, liên quan đến những điều cấm kỵ, đáng sợ hoặc đơn giản là vô nghĩa và đi kèm là tình trạng lo âu (anxiety) ở nhiều cấp độ. (3)
Thực tế, căn bệnh tâm lý OCD này vốn dĩ không nằm trong nhu cầu tồn tại đối với những cá nhân mắc căn bệnh này. Nói cách khác, những nỗi ám ảnh tiềm ẩn là điều khiến một người dần bị chi phối, lệ thuộc bởi những suy nghĩ, hành vi của chính họ.
1. Những điều vô nghĩa liệu có vô nghĩa?
Tới thời điểm hiện tại, đa số các quan điểm đều nhận được những nhận định mâu thuẫn với nhau. Nhưng trong số đó, ở quan niệm của Solomon - Vị vua vương quốc Israel Thống nhất nhận được nhiều sự đồng tình, ông đề cập: “Mọi thứ đều vô nghĩa”, ông không có ý nói rằng mọi thứ trên thế giới đều không có giá trị. Đúng hơn, quan điểm của ông là mọi nỗ lực của con người nếu không có ý muốn của Chúa đều sẽ vô nghĩa. Solomon đã có tất cả, và ông đã thử mọi cách, nhưng khi ông gạt Chúa ra khỏi phương trình thì không gì làm ông hài lòng. Cuộc sống có mục đích, nó được tìm thấy trong việc biết Chúa và tuân giữ các điều răn của Ngài . Khi về già, Solomon đã thấy mọi thứ trên thế giới này đều trống rỗng và vô nghĩa. Và lời than thở này trở thành một phần của lịch sử Cựu Ước.
Ở khía cạnh thờ thần, với một số cá nhân, tôn giáo là cần thiết đối với sự tồn tại của những cá thể hiện hữu, tôn giáo là điều khiến ta nhận ra những giá trị thực tế, nhưng thực ra có nhiều hơn những điều phù phiếm (vô nghĩa) mà ta khó hiểu được điều đó. Bởi lẽ, từ góc độ vô thần, những người ngoài đạo thông thường sẽ không hiểu những điều mà những người trong đạo đang làm và chúng ta xem đó là vô nghĩa, nhưng đó là một phần sự phát triển của xã hội, là của sự làm giàu văn hóa, thậm chí còn là lý do khiến ta tồn tại và yêu thương. (4)
Với Maslow - Cha đẻ của tâm lý học nhân văn (human psychology) và lý thuyết mô hình tháp “Nhu cầu con người”. Theo lý thuyết, có ít nhất năm nhóm mục tiêu mà chúng ta có thể gọi là những nhu cầu cơ bản, gồm: sinh lý, an toàn, tình yêu, lòng tự trọng và sự tự hiện thực hóa. Ở khái niệm này, chúng ta bị thúc đẩy bởi mong muốn đạt được hoặc duy trì các điều kiện khác nhau làm cơ sở cho những thỏa mãn cơ bản này và bởi một số ham muốn trí tuệ khác. Ngoài ra, các mục tiêu cơ bản này có liên quan với nhau, được sắp xếp theo thứ bậc ưu việt. Điều này có nghĩa là mục tiêu ưu việt nhất sẽ độc chiếm ý thức và sẽ có xu hướng tự mình tổ chức việc huy động các khả năng khác nhau của cơ thể. Những nhu cầu ít ưu tiên hơn là bị giảm thiểu, thậm chí bị lãng quên hoặc phủ nhận. Nhưng khi một nhu cầu được thỏa mãn khá tốt, nhu cầu ưu tiên tiếp theo (là cao hơn) sẽ xuất hiện, lần lượt thống trị đời sống ý thức và đóng vai trò là trung tâm tổ chức hành vi, vì những nhu cầu được thỏa mãn không phải là động cơ tích cực. (5)
Ở trẻ sơ sinh, chúng ta cũng có thể thấy phản ứng trực tiếp hơn nhiều đối với các loại bệnh tật của cơ thể. Đôi khi những căn bệnh này đã đe dọa ngay lập tức và điều đó khiến trẻ cảm thấy không an toàn. Ví dụ, nôn mửa, đau bụng hoặc những cơn đau nhói khác dường như khiến trẻ nhìn thế giới theo một cách khác. Vào thời điểm đau đớn như vậy, có thể giả định rằng, đối với đứa trẻ, diện mạo của cả thế giới đột nhiên chuyển từ nắng sang bóng tối. Do đó, một đứa trẻ bị ốm do ăn phải thức ăn không tốt có thể trong một hoặc hai ngày sẽ phát triển nỗi sợ hãi, ác mộng và nhu cầu được bảo vệ và trấn an từ cha mẹ là điều cần thiết ngay lúc.
Từ những quan sát này và những quan sát tương tự, chúng ta có thể khái quát hóa và nói rằng một số bộ phận người trong xã hội của chúng ta thường thích một thế giới an toàn, trật tự, có thể dự đoán được, có tổ chức mà việc tin cậy là điều cần thiết và trong đó những điều bất ngờ, khó quản lý hoặc nguy hiểm khác không xảy ra. Nói cách khác, những điều cho là phù phiếm (vô nghĩa) xảy ra trong xã hội mà con người quan tâm tới mặt hình thức thì không có tác động tới những nhu cầu tồn tại của các cá thể, điều này xuất phát từ những tư tưởng của thời đại, những định kiến xuyên suốt văn hóa của loài ngoài.
2. OCD - Không đơn giản là căn bệnh.
Nghiên cứu sâu hơn, những suy nghĩ của con người rất khó lường (không ngoài HIGGS-ers). Thậm chí rất dễ dàng để một người biết được những điều gì là có vấn đề thông qua những hành vi, cách ứng xử của người khác nhưng lại khó khăn trong việc nhận thức được những điều gì là vô nghĩa hay không khi nó xảy ra đối với bản thân.
Chẳng hạn, những đứa bé khi mới sinh ra chỉ biết bò thì luôn khao khát được đi, nhưng khi đã có thể đi thì những đứa bé này lại khao khát những điều khiến chúng tò mò hơn. Như vậy, đi bộ bây giờ không còn quan trọng đối với những đứa bé này nữa mà là những thứ thu hút đứa trẻ. Tương tự, con người chỉ bị ám ảnh bởi những thứ bản thân họ không có và dần dần mất đi sự hứng thú khi đã sở hữu.
OCD như tôi đã đề cập là một căn bệnh tâm lý, và sự lặp đi lặp lại những hành vi bị cho là quá mức là liều thuốc tinh thần của người mắc OCD; nhưng đồng thời cũng là con dao hai lưỡi. Nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống thường nhật của người bệnh khi phải rập khuôn tuân theo những “nghi thức” vô nghĩa và mất thời gian, chưa kể sự căng thẳng luôn thường trực trong tâm trí.
Sự thật luôn phũ phàng, căn bệnh này có thể xảy ra với bất kì ai, không phân biệt giới tính, độ tuổi, và kể cả tín ngưỡng tôn giáo. Cho tới hiện tại, những nguyên nhân chính xác của hiện tượng do căn bệnh này gây ra, cũng chỉ có thể giải thích bằng các mô phỏng và dự đoán mặc dù đã có những quan sát hoạt động của căn bệnh qua não bộ cấp tế bào. Đến khi mọi thứ dường như có thể, chúng ta vẫn chưa chắc chắn được điều gì thực sự diễn ra trong não và kể cả chính suy nghĩ của chúng ta.
Thực tế, câu hỏi “phải làm gì khi bị OCD?” vẫn đang chờ phản hồi đến từ khoa học. HIGGS vẫn đang và sẽ tiếp tục cập nhật các thông tin mới nhất về những chủ đề liên quan, những giải đáp khác sẽ được HIGGS cập nhật trong tương lai.
Đừng quên ghé thăm HIGGS thường xuyên để tìm ra được câu trả lời về những vấn đề của bản thân mình.
——————————————————
🔥HIGGS cam kết tạo ra, phổ biến và bảo tồn kiến thức🔥
[HIGGS is committed to generating, disseminating and preserving knowledge.]
Don't forget to follow us for updates on HIGGS!!!
——————————————————
Mọi thắc mắc xin liên hệ:
Fanpage: https://www.facebook.com/HTK.HIGGS
Điện thoại:
0942819086 - Mai Văn Bách (Chủ nhiệm)
Email: [email protected]