21/12/2020
Nghệ thuật Trừu tượng là trào lưu hội họa đầu thế kỷ 20, vào những năm 1910 đến 1914. Nghệ thuật trừu tượng sử dụng ngôn ngữ thị giác từ những hình dạng, khuôn mẫu, màu sắc và đường nét để tạo nên một sáng tác có thể tồn tại độc lập, ở một mức nào đó, với những tham khảo có thực từ thế giới. Nghệ thuật phương Tây, từ thời Phục hưng đến giữa thế kỷ 19, được đặt nền móng bởi logic của phối cảnh và nỗ lực để tái tạo một ảo ảnh về thế giới thực tại. Nghệ thuật của các nền mỹ thuật khác ngoài châu Âu thì lại dễ tiếp cận và cho thấy những cách khác để mô tả trải nghiệm thị giác tới họa sĩ. Vào cuối thế kỷ 19 nhiều họa sĩ cảm thấy cần phải tạo ra một loại hình mỹ thuật mới đặt giữa những thay đổi quan trọng xảy ra trong công nghệ, khoa học và triết học. Mỗi họa sĩ có các nguồn khác nhau để tạo nên lý thuyết của mình và tranh luận, cũng như phản ánh mối quan tâm đến xã hội và tri thức trên tất cả các lĩnh vực của văn hoá phương Tây tại thời điểm đó.[2]
Nghệ thuật trừu tượng, nghệ thuật phi hình thể, nghệ thuật phi vật thể, và nghệ thuật không trình diễn là các thuật ngữ không quá tách biệt. Chúng khá tương tự nhau, nhưng có lẽ không thực sự giống nhau.
Robert Delaunay, 1912–13, Đĩa trưng bày (Le Premier Disque), bán kính: 134 cm, bộ sưu tập cá nhân.
Trừu tượng cho thấy một bước chuyển khởi đầu từ thực tế trong mô tả hình ảnh của mỹ thuật. Sự trừu tượng tồn tại trong một chuỗi liên tục. Ngay cả nghệ thuật nhằm đạt được mức độ cao nhất cũng có thể được coi là trừu tượng, ít nhất là theo lý thuyết, vì sự thể hiện hoàn hảo là không thể nắm bắt. Tác phẩm nghệ thuật có thể tự do, những thay đổi ví dụ như màu sắc và hình thức rõ ràng, có thể nói là trừu tượng một phần. Trừu tượng hoàn toàn là không có dấu vết của bất kỳ tham khảo thực tế nào có thể nhận biết được. Ví dụ, trong trừu tượng hình học, người ta không thể tìm thấy các tham chiếu đến các thực thể tự nhiên. Nghệ thuật hình tượng và nghệ thuật trừu tượng tổng thể giống như hai mặt của đồng xu, chúng loại trừ lẫn nhau. Nhưng lối vẽ hình tượng và cụ tượng (hay tả thực) nghệ thuật thường vẫn chứa một phần trừu tượng.
Cả hai lối vẽ: trừu tượng hình học và trừu tượng trữ tình (lyrical abstraction) đều thuộc trừu tượng hoàn toàn. Có rất nhiều phong trào nghệ thuật thể hiện sự trừu tượng một phần có thể kể đến là trường phái dã thú, trong đó màu sắc được làm nổi bật và cố ý biến đổi so với thực tế, và trường phái lập thể - thay đổi táo bạo hình thức của các vật thể được miêu tả.
Trường phái Hậu Ấn tượng với các họa sĩ như Paul Gauguin, Georges Seurat, Vincent van Gogh và Paul Cézanne đã có một tác động rất lớn đối với mỹ thuật thế kỷ 20 và dẫn tới sự ra đời của trường phái trừu tượng của thế kỷ 20. Các tác phẩm để lại của các họa sĩ như Van Gogh, Cézanne, Gauguin, và Seurat là tối quan trọng cho sự phát triển của mỹ thuật hiện đại. Vào đầu thế kỷ 20, Henri Matisse và một số nghệ sĩ trẻ tiền-Lập thể khác có thể kể đến như Georges Braque, André Derain, Raoul Dufy và Maurice de Vlaminck đã cách mạng giới nghệ thuật ở Paris với các bức vẽ "hoang dã", đa màu sắc, hàm xúc mà các nhà phê bình gọi là trường phái Dã thú. Với các màu sắc mạnh mẽ, những nét vẽ tự do và giàu tính tưởng tượng, Henri Matisse đã tiến rất gần với sự trừu tượng thuần túy qua các bức tranh Cửa sổ Pháp tại Collioure (1914), Góc nhìn từ Nhà thờ Đức bà (1914) và Bức rèm Vàng năm 1915. Ngôn ngữ thô của màu sắc như được phát triển bởi trường phải dã thú cũng trực tiếp ảnh hưởng một người tiên phong khác của trường phái trừu tượng, Wassily Kandinsky (xem tranh).
Cửa số mở đồng loạt, (phần đầu, motif thứ 3), vẽ bởi Robert Delaunay, sơn dầu trên voan.
Lyubov Popova, Người mẫu, 1913. Một bức tranh theo trường phái Lập thể
Mặc dù trường phái Lập thể rất phụ thuộc vào chủ thể, trường phái này, cùng với Dã thú, là các phong trào nghệ thuật đã trực tiếp mở ra cánh cửa để bước tới trường phái trừu tượng trong thế kỷ 20. Pablo Picasso đã tạo ra những bức hoạ đầu tiên của ông dựa trên ý tưởng của Cézanne rằng tất cả các mô tả về tự nhiên có thể được giản lược còn ba khối rắn: hình lập phương, hình cầu và hình nón. Với bức tranh Các cô gái ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon) (1907), Picasso đã mô tả trần trụi cảnh nhà thổ thô sơ với năm cô gái bán dâm. Ông vẽ các phụ nữ một cách bạo liệt, có thể gợi đến các mặt nạ thổ dân châu Phi và thể hiện sáng tạo Lập thể mới của ông. Lập thể phân tích được Pablo Picasso và Georges Braque cùng phát triển trong khoảng năm 1908 đến năm 1912. Trường phái Lập thể phân tích là biểu hiện rõ ràng đầu tiên của trường phái Lập thể, theo sau đó là Lập thể tổng hợp với các họa sĩ Braque, Picasso, Fernand Léger, Juan Gris, Albert Gleizes, Marcel Duchamp và một số người khác vào những năm 1920. Lập thể tổng hợp được đặc trưng bởi đi đầu trong sử dụng các kết cấu, bề mặt khác nhau, các yếu tố chắp nối, kỹ thuật papier collé và các chủ đề hỗn hợp đa dạng. Dù cấu tạo từ các phần rời rạc hay chắp nối, nhưng khi tập hợp lại, chúng có thể tạo nên bức tranh ở một tầm mới. Một số họa sĩ chắp nối như Kurt Schwitters và Man Ray và một số họa sĩ khác lấy gợi ý từ trường phái Lập thể đã góp phần sự phát triển của phong trào mỹ thuật với tên gọi Dada.
Nhà thơ người Ý Filippo Tommaso Marinetti xuất bản Tuyên ngôn Vị lai (Manifesto del Futurismo) vào năm 1909, cuốn sách sau đó đã truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ như Carlo Carra trong bức Vẽ giữa tiếng động, tiếng ồn và mùi hôi và Umberto Boccioni với bức Tàu chuyển bánh, 1911, tới một giai đoạn trừu tượng hơn nữa, cùn với trường phái Lập thể, những phong trào nghệ thuật này có ảnh hưởng sâu sắc khắp Châu Âu.
Robert Delaunay, Champs de Mars. La Tour rouge. 1911. Một bức tranh theo trường phái oóc-phê.
Trong Salon de la Section d'Or năm 1912, nhà thơ Guillaume Apollinaire đã đặt tên cho tác phẩm của nhiều họa sĩ,trong đó có Robert, là trường phái óoc-fê (Orphism). Ông đã định nghĩa nó là, nghệ thuật vẽ các cấu trúc mới không được lấy từ thị giác thông thường, mà được tạo ra hoàn toàn bởi các họa sĩ... đây là mỹ thuật thuần khiết [18].
Kể từ đầu thế kỷ 20, các mối quan hệ văn hoá giữa các họa sĩ giữa các thành phố lớn ở châu Âu trở nên cực kỳ năng động khi họ cố gắng tạo ra một hình thức nghệ thuật tương xứng với nguyện vọng cao cho chủ nghĩa Hiện đại. Các ý tưởng có thể được trao đổi chéo nhau qua sách vở, triển lãm và các phát biểu của các họa sĩ để nhiều nguồn có thể được khơi ra cho thử nghiệm và thảo luận, giúp tạo cơ sở cho các phương thức trừu tượng đa dạng. Đoạn trích sau đây trong cuốn Thế giới nhìn lại cho thấy sự liên kết văn hoá vào thời điểm đó ấn tượng ra sao: "Kiến thức của David Burliuk về các phong trào mỹ thuật hiện đại hẳn là rất cập nhật, cuộc triển lãm "Con Bồi Rô" lần thứ hai vào tháng 1 năm 1912 (tổ chức ở Moskva) không chỉ có những bức tranh được gửi từ Munich, mà còn có tranh một số thành viên của nhóm Cây cầu (Die Brücke) ở Đức, trong khi tới từ Paris là các bức họa vẽ bởi Robert Delaunay, Henri Matisse và Fernand Léger, cũng như Picasso. Vào mùa xuân, David Burliuk đã có bài giảng về chủ nghĩa Lập thể và ông lên kế hoạch đăng các bài tranh biện trên báo, với ngân quỹ từ triển lãm "Con Bồi Rô". Ông ra nước ngoài vào tháng 5 và trở lại với quyết tâm cạnh tranh ấn phẩm với Niên biểu Der Blaue Reiter-được xuất bản khi ông còn ở Đức ".
Từ năm 1909 đến năm 1913, nhiều tác phẩm thử nghiệm trên đường tìm kiếm 'nghệ thuật thuần khiết' được vẽ ra bởi: Hilma af Klint; Francis Picabia với Cao su, 1909, Mùa Xuân, 1912, Vũ điệu mùa xuân và Diễu hành, Seville, 1912.Wassily Kandinsky thì vẽ bức Không đề (Trừu tượng màu nước đầu tiên), 1910. František Kupka đã vẽ những tác phẩm theo trường phái óoc-fê, Đĩa của Newton (Nghiên cứu cho tẩu pháp bằng hai màu), 1912 [26] và Amorpha, Fugue en deux [19] (Tẩu pháp trong hai màu), 1912; Roberto Delaunay đã vẽ một loạt tranh có tựa đề Cửa sổ mở đồng loạt và Hình tròn, Soleil n ° 2 (1912-13);Léopold Survage thì vẽ Nhịp điệu màu (Nghiên cứu cho dùng phim), 1913; Piet Mondrian vẽ Tableau No. 1 và Sáng tác số 11, 1913
Các cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục: Các bức vẽ theo trường phái Toả tuyến (Rayonnism) của Natalia Goncharova và Mikhail Larionov, đã sử dụng các đường nét như những tia sáng để họa nên tác phẩm. Kasimir Malevich thì hoàn thành tác phẩm trừu tượng toàn phần đầu tiên của mình, theo trường phái Tuyệt đỉnh (Suprematism), 'Hình vuông đen', vào năm 1915. Một trong những họa sĩ theo trường này nữa là Liubov Popova, bà đã vẽ nên loạt tranh Kiến tạo cấu trúc và Kiến tạo không gian vào giữa các năm 1916 và 1921. Piet Mondrian cũng phát triển ngôn ngữ trừu tượng bằng các đường ngang, dọc với hình chữ nhật tô màu, vào khoảng giữa năm 1915 và năm 1919 tạo nên trường phái Tân tạo hình (Neo-Plasticism). Trường phái này được Mondrian, Theo van Doesburg và các thành viên nhóm De Stijl theo đuổi với dự định thay đổi môi trường nghệ thuật trong tương lai