11/07/2020
Chúc mừng sinh nhật Mark Fisher (11/7/1968)
Fisher viết về lý do mà Inception dễ hiểu và rỗng tuếch đến thế:
"Inception phối kết hợp những thách đố về trí tuệ và siêu hình của Memento và The Prestige với hình thức bạo lực hành động của Batman Begins và The Dark Knight. Màn phối kết này không phải lúc nào cũng ra hồn, vấn đề nằm ở những trường cảnh hành động dài dòng mà cùng lắm chỉ tạo ra ấn tượng hời hợt. Đôi lúc, tôi cảm giác như Inception chỉ có thành tựu duy nhất là đưa ra một động lực tinh tế đến kịch tính cho những màn rượt đuổi và xả súng nửa vời. Một người xem thiếu cảm thông có thể nghĩ rằng toàn bộ cấu trúc bản thể luận phức tạp của phim được dựng ra để biện minh cho những khuôn sáo của dòng phim hành động, ví dụ như cả lố những việc có thể làm được trong khoảng thời gian một chiếc xe tải rơi từ trên cầu xuống sông. Carl Neville phàn nàn rằng Inception chẳng thể nào hơn được “ba bộ phim hành động lạc lõng xảy ra xen kẽ liên tục” (theimpostume.blogspot.com/ 2010/07/inception-takes-long-time-get-going-and.html). Neville viết: “Đáng lẽ ra phải có một chuyến du hành chóng mặt vào những bất-khả-giới tuyệt diệu, chưa kể là cõi giới thuần vô thức mà vài nhân vật chính đã chu du, nhưng đằng này Inception lại trông như một chuỗi phim hành động, cái nọ lồng trong cái kia: ‘thực tại’ hiện ra với cảm giác của một phim ‘toàn cầu hóa’, nảy từ Tokyo tới Paris tới Mombasa tới Sydney, với một nhóm các thiên tài kỹ thuật bị buộc phải sống ngoài vòng pháp luật; không thiếu những cú máy từ trên từng không, quay cảnh thị thành và bản sắc địa phương mỹ dị. Giấc mơ tầng 1 về cơ bản là The Bourne Identity--dầm dề mưa gió, xám xịt đất trời, đặc sệt nội đô. Tầng hai là cấu trúc Ma trận--ẩu đả phi trọng trường trong một khách sạn theo phong cách Hiện đại. Tầng ba, nghiệt ngã thay, hóa ra lại là một phim 007 hồi những năm 70, còn cõi giới của Cái Nó đơn thuần chỉ có đô thành đổ nát. Những cảnh trong tuyết trắng giống hệt On Her Majesty’s Secret Service, một trong những phim 007 ấn tượng nhất về hình ảnh, nhưng cũng khó lòng mà nghĩ gì khác ngoài cảm giác tụt hứng như Neville đã thấy. Thay vì đẩy nhanh nhịp phim và nâng cao mức phức tạp siêu hình, bộ phim lại vọt nhanh đến hồi kết đầy thất vọng. Kế hoạch kỹ lưỡng của “kiến trúc sư cõi mơ” Ariadne nhanh chóng bị bỏ lại, cô được ra lệnh phải quên mê cung đi và “tìm đường đi thẳng tưng xuyên qua nó.” Khi Ariadne và bộ phim tuân phục sự sai khiến này, tôi có cảm giác cứ như các chỉ lệnh của thể loại hành động ly kỳ đã tông thẳng qua mạng lưới loằng ngoằng trong tự sự đánh đố của Nolan--với một sự ý nhị đúng bằng với cảnh đoàn tàu xồ ra trên phố trước đó.
Neville đã đúng khi nói rằng Inception còn lâu mới ra được “một chuyến du hành chóng mặt vào những bất-khả-giới tuyệt diệu”, nhưng cũng đáng để ta nghĩ sâu xa về lý do mà Nolan tém tém phim lại như thế. (Sự tằn tiện của anh cực kỳ đối lập với sự xa hoa cách điệu của những phim như The Lovely Bones--phim này lại nhắm tới sự tuyệt diệu và bất khả, nhưng thành ra CGI nửa mùa chứ chẳng thể mộng mị thi vị.) Trước hết, Inception kỳ dị ở chỗ nó chẳng hề giống mộng mị chút nào cả. Cũng hay đấy, khi mà coi Inception là loại phim nghịch-Hitchcock: trong khi Hitchcock vận dụng những địa hình trong mơ phảng phất tranh Giorgio de Chirico và tái vận chúng thành không gian phim ly kỳ, thì Nolan lại lựa ra những trường cảnh hành động đúng chuẩn và tái vận chúng thành mộng mị. Ngoại trừ một cảnh mà Cobb như bị hai bức tường dồn lại (khá thú vị là cảnh này lại xảy ra ở hiện thực), những vặn xoắn trong Inception chẳng hề giống cách mà giấc mơ thổi phồng hoặc phá sập không gian. Chẳng có những cận kề hay khoảng cách quái dị, không khỏa lấp, giống như trong The Trial, bộ phim nắm bắt tốt nhất những địa hình lạ đời của giấc mộng bất an. Trong cảnh nổi tiếng nhất của Inception, khi Ariadne gấp khúc không gian Paris quanh cô và Cobb, cô đã hành xử giống như một xảo sư đang tạo ra bối cảnh, thay vì là một người nằm mộng. Đây là sự thể hiện năng lực kỹ thuật, chẳng có chút xung lực lạ đời nào cả. Những cảnh trong limbo thì như phiên bản đảo ngược của khái niệm “siêu thực không có vô thức” như Fredric Jameson đã nói: đây là vô thức không có siêu thực. Thế giới mà Cobb và Mal cùng nhau tạo ra trong ký ức của họ giống như một bài thuyết trình PowerPoint về chuyện tình của họ và xuất phẩm sau cùng lại như mô hình hướng dẫn vậy: phảng phất ám ảnh trong tàn nhược, đáng sợ đến lặng người trong trống rỗng duy ngã. Chỗ nào có vô thức, chỗ đó có CGI.
Trong một bài viết có ảnh hưởng lớn, Devin Faraci đã lý luận rằng cả phim là ẩn dụ cho chính quy trình sản xuất điện ảnh: Cobb là đạo diễn, đồng sự Arthur là nhà sản xuất, Ariadne là biên kịch, Saito là “tay nhân sự tập đoàn coi mình là một phần của cuộc chơi”, và Fischer là khán giả. Faraci viết: “Đạo diễn Cobb dẫn Fischer qua một hành trình lôi cuốn, kích thích và đầy hứng khởi, một hành trình đưa anh ta tới sự tự thấu hiểu. Cobb là đạo diễn lừng danh, người mang tới hành động và diễn cảnh, nhưng cũng mang cả ý nghĩa, nhân tính và cảm xúc.” (www.chud.com/24477/neverwake-up-the-meaning-and-secret-of-inception/). Thực chất, trong vai trò đạo diễn, Cobb khá tầm thường (kém hơn hẳn so với Nolan)--như Neville lý giải, “hành trình” của Fischer dẫn anh ta qua một loạt các cảnh hành động tiêu chuẩn, chúng chỉ “lôi cuốn, kích thích và đầy hứng khởi” theo một cách đại khái. Nổi bật và đậm tính biểu hiện hơn cả, lối nói phóng đại của Faraci ở đây nghe cứ như là một bài chào hàng tiếp thị cho Cobb và đồng sự. Khi họ đọc điếu văn cho “tính sáng tạo” trong quy trình kiến trúc mộng tưởng--Hãy kiến tạo những thế giới chưa từng tồn tại!!!--lời họ nghe như được tụng lại từ một bài quảng cáo hoặc kịch bản cho sản phẩm tập đoàn. Những đoạn họ chuẩn bị “gài” Fischer có khi lại được dựng ra để làm bật lên sự trống rỗng đến nẫu mề của “ngành công nghiệp sáng tạo”. Hành động trong phim giống y như ảo tưởng của những nhóm tiếp thị về công việc họ làm. Inception không hẳn là sự chiêm nghiệm siêu việt về sức mạnh của điện ảnh, mà đúng hơn là phản ánh cách mà kỹ thuật điện ảnh đã bị ốp vào một diễn cảnh tầm phào, kết hợp nam tính thương trường, giao thức giải trí và kỳ vọng nặng đến ná thở, từ đó mà vô tiền khoáng hậu thống trị đời sống lao động và tâm trí mộng mị của chúng ta.
[...]
Địa hình do Inception dàn ra chẳng hề thuộc về vô thức cổ điển--cái nhà máy không của riêng ai, như Jean-François Lyotard đã chỉ ra trong Libidinal Economy, được phân tâm học miêu tả “thông qua trợ giúp của hình ảnh về những ngoại trấn hoặc ngoại quốc như Rome hay Ai Cập, như bức Imaginary Prisons của Piranesi hay bức Other Worlds của Escher”. Trái lại, những khu thương mại và hành lang khách sạn trong Inception lại thuộc về tư bản toàn cầu hóa--thế lực dễ dàng vươn vòi bạch tuộc tới cả những cõi sâu thẳm từng là vô thức. Chẳng có gì xa lạ, chẳng có “nơi khác” ở đây, chỉ có một “tiềm thức” được tiếp thị đại trà vẫn đang tái lưu thông các hình ảnh vô cùng quen thuộc (được khai thác từ phân tâm học hạ cấp). Vậy là thay cho những bí ẩn kỳ quái nơi vô thức, chúng ta được mời vào một cảnh phảng phất “Oedipus” giữa Fischer và một xạ ảnh của người cha đã khuất. Tính chất “được mớm sẵn” của cuộc gặp mặt này chẳng hề xuất hiện trong những khí chất lạ lùng từng thổi hồn ám ảnh vào các ca bệnh của Freud. Tư tưởng Ngụy-Freud đã được chuyển hóa bởi văn hóa giải trí-quảng cáo nhan nhản ngày nay, khi mà phân tâm học nhường đường cho tư tưởng “tự thân vận động” theo tâm lý trị liệu--vốn đã ngấm vào truyền thông đại chúng. Cũng có thể diễn giải Inception như sự dàn dựng câu chuyện về việc phân tâm học đã bị qua mặt thế nào, với chiến thắng của Cobb trước xạ ảnh của Mal. Việc tự nói vòng vo để chấp nhận rằng cô ta chỉ là tàn ảnh của người vợ quá cố cũng giống như đang nhại lại tính thực dụng trơ tráo của tâm lý trị liệu ấy.
Câu hỏi rằng Cobb có phải đang mơ ở cuối phim đúng là quá đơn giản, bởi còn vấn đề rằng Cobb đang ở trong giấc mơ của ai nữa, nếu không phải giấc mơ “của riêng”. Hệ hình xưa kia của Freud cũng khiến điều này trở thành vấn đề, dĩ nhiên rồi, nhưng vấn đề hồi xưa vốn là Cái Tôi không làm chủ được ngôi nhà của nó bởi vì chủ thể bị vô thức chia cắt. Trong Inception, Cái Tôi vẫn không phải chủ nhà, nhưng đó là bởi những thế lực trục lợi của thương trường tồn tại khắp nơi. Giấc mơ không còn là không gian cho ta trải qua và đối mặt với các tâm bệnh riêng tư, mà đã trở thành những bối cảnh cho lợi ích tập đoàn trị đấu đá nhau một cách tầm thường. “Tiềm thức quân sự hóa” của Inception đã hoán đổi sự gấp rút ghê gớm, nhuốm màu thần thoại của vô thức khi xưa thành những bức hại hoảng loạn và một cảm giác quen thuộc nhằm trấn an: đi làm thì bị các tay súng điện tử truy sát, rồi sau xả hơi cạnh mấy đứa nhỏ xây lâu đài cát. Đây là một lý do khác khiến cho những giấc mơ trong Inception hiện ra chẳng giống mơ mộng gì, bởi sau cùng thì đây đâu phải giấc mơ theo cách hiểu thông thường. Những không gian ảo được thiết kế trong bán-giả-mộng của Inception, cứ tầng tầng lớp lớp, rõ ràng là giống như trò chơi điện tử hơn là giống giấc mơ theo cách hiểu của phân tâm học. Trong thời đại của tiếp thị não bộ, chúng ta bị thao túng bởi “muôn vẻ chuyện kể” (theo lời J.G. Ballard), thứ văn vẻ của các trung tâm tư vấn nhãn hiệu, công ty đại diện quảng cáo và các nhà sản xuất trò chơi điện tử. Những thứ này đều khiến tiền đề của Inception--rằng rất khó để gài một ý niệm vào trong tâm trí ai đó--chợt trở nên cũ rích. Chẳng phải “khởi nguyên ý niệm” chính là đặc trưng trong lao động nhận thức của tư bản giai đoạn cuối sao?
Để ý niệm ấy thành công, Arthur và Cobb đã nói với Saito là: chủ thể phải tin rằng ý niệm bị gài ấy vốn là của chính mình. Tuyên bố tự thân vận động của tâm lý trị liệu--thứ mà Cobb đã xác nhận ở cuối phim--đã trở thành cánh tay đắc lực đến vô giá cho sự vận hành ý hệ này. Như Eva Illouz lý luận trong Cold Intimacies: The Making of Emotional Capitalism (bàn về việc chuyển hóa phân tâm học thành trò “tự thân vận động” mà Inception đã kịch hóa thành phim), những quan điểm nổi trội của trị liệu ngày này được dựa trên các giả định tự hành xác vốn đã loại đi hết những lời giải thích có tính xã hội dành cho nỗi khổ cá nhân. Quan niệm “tự thân vận động” lại hiệu quả một cách đầy nghịch lý trong việc củng cố lý thuyết rằng cốt lõi của sự bất hạnh nằm bên trong ta: “Câu chuyện mà tự-thân-vận-động vẫn kể thì không chỉ bện chặt với câu chuyện về thất bại và khổ nạn tâm thần, mà thực sự là được nó thúc đẩy. Di sản của Freud ngày nay, thật mỉa mai thay, lại là tuyên bố rằng chúng ta hoàn toàn làm chủ căn nhà của mình, kể cả khi--đặc biệt là khi--nó đang bốc cháy.” Thế nhưng khổ nạn của ta, giống như mộng tưởng, xe cộ, tủ lạnh, đều là thành quả của nhiều bàn tay nặc danh. Khổ nạn không phải của riêng ai này có thể chính là đề tài của Inception. Cái kết có vẻ lạc quan và những màn hành động lạc đề đều chẳng thể đánh tan được cảm hứng chủ đạo tràn ngập trong Inception. Đó là một nỗi buồn nảy sinh từ những nút kẹt của một nền văn hóa mà trong đó thương trường đã ngăn chặn không chỉ sự lạ lùng của vô thức, mà đáng sợ hơn là cả khả năng của những thứ ngoại lai--chính là tình huống mà Inception đại diện, thay vì phê bình. Bạn mong mỏi những nơi xa xôi, nhưng đâu đâu cũng như bản sắc địa phương trên trường quay quảng cáo. Bạn muốn lạc lối trong mê cung của Escher, nhưng sau cùng lại rơi vào một cuộc truy sát không hồi kết. Trong Inception, giống như trong văn hóa tư bản giai đoạn cuối nói chung, bạn luôn ở trong một giấc mơ của kẻ khác, nghĩa là trong giấc mơ của không-ai-cả."