Mật Tông - Pháp Bảo

Mật Tông - Pháp Bảo Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Mật Tông - Pháp Bảo, Hanoi.

01/11/2018

Câu chuyện có thật 100% đời sống ở Tây Phương Cực Lạc như thế nào?

Mạn đà la Kalachakra - Kim Cang Thời LuânBiểu tượng Kalachakra (Kim Cang Thời Luân) là sự kết hợp của 10 chủng tự mật tô...
01/11/2018

Mạn đà la Kalachakra - Kim Cang Thời Luân

Biểu tượng Kalachakra (Kim Cang Thời Luân) là sự kết hợp của 10 chủng tự mật tông kết hợp với nhau. Là biểu tượng cho 10 quyền lực của Phật (thập lực). Là tinh hoa của tất cả tinh hoa.

Tương truyền rằng biểu tượng này còn là đại diện cho bàn thờ thập phương chư Phật. Nếu không có bàn thờ, nếu không có hình ảnh, tôn tượng của chư vị. Thì chỉ cần thờ hình ảnh của biểu tượng này, cũng xem như là đã có bàn thờ hướng tới thập phương chư Phật. Công năng, diệu dụng của Kalachakra thật không thể nghĩ bàn và diễn tả hết được.

Nơi nào có biểu tượng kalachakra, nơi đó sẽ không bị nạn về đất, nước, gió, lửa và được cát tường.

Trống Chod

Một trong pháp môn hành trì của Mật tông nổi tiếng là Chöd để dứt trừ chấp ngã, theo đó hành giả đi vào trong nghĩa địa lúc 12 giờ đêm và xướng tụng bài kệ. Chöd trong khi bàn tay phải thì quay một cái trống lớn.

Chủng loại và công dụng của pháp khía. Chủng loại pháp khíPháp khí là những vật dụng dùng trong tu chứng Phật pháp, về c...
01/11/2018

Chủng loại và công dụng của pháp khí

a. Chủng loại pháp khí

Pháp khí là những vật dụng dùng trong tu chứng Phật pháp, về cơ bản có thể chia làm sáu loại, là kính lễ, tán tụng, cúng dường, trì nghiêm, hộ thân, khuyến giáo.

Kính Lễ: Khata (kha-gtags) : dâng lụa khata dể thể hiện lòng tôn kính với chư Phật.

Cúng dường: đèn nến : dùng của cải và vật chất và tấm lòng thanh tịnh dể cúng dường chư Phật.

Tán Tụng: Sáo xương : dùng âm thanh dể mời gọi chư tôn, thức tỉnh chúng sinh.

Hộ Thân: Hạt ô: mang theo Phật. Bồ Tát bên mình để hộ thân.

Khuyến Giáo: Đá mani: dùng chân ngôn của chư Phật để khuyến giáo chúng sinh cầu phúc cho chúng sinh.

Trì Nghiệm: Bình Quán Đỉnh: dụng cụ dùng trong tu trì, tạo phúc, trấn tà ma.

b. Công dụng của pháp khí

Trong quá trình tu luyện, người tu hành nhờ vào sự trợ giúp của pháp khí để tăng cường trí tuệ và linh cảm, nhanh chóng đạt đến chứng ngộ. Pháp khí cũng chính là cầu nối để liên kết người tu hành cới chư Phật và chúng sinh.

Lục tự đại minh chú: Um Mani Padme Hum – Án Ma Ni Bát Di Hồng
Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà.

Hình Ảnh : Mặt trên của một Mani có 6 chữ là : Om mani padme hum

Có thể nào chuyển thân miệng ý ô nhiễm thành thân miệng ý thanh tịnh được không? hay đây là hai phạm trù hoàn toàn tách biệt? Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm, mang đủ mọi tánh đức. Thân miệng ý thanh tịnh đến từ sự tách lìa trạng thái ô nhiễm, chuyển hóa ô nhiễm thành thanh tịnh.

Chuyển hóa bằng cách nào? Phương pháp tu được nhắc đến qua bốn âm kế tiếp. MANI [ma ni], nghĩa là ngọc báu, tượng trương cho phương tiện, là tâm bồ đề, vì chúng sinh mà nguyện mở tâm từ bi, đạt giác ngộ. Cũng như viên ngọc quí có khả năng xóa bỏ cảnh nghèo, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng xóa bỏ sự bần cùng khó khăn trong cõi luân hồi và niết bàn cá nhân. Như ngọc như ý có khả năng chu toàn mọi ước nguyện của chúng sinh, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng chu toàn mọi ước nguyện chúng sinh.

Hai chữ PADME [bát mê], nghĩa là hoa sen, tượng trưng cho trí tuệ. Hoa sen từ bùn mọc lên nhưng lại không ô nhiễm vì bùn. Tương tự như vậy, trí tuệ có khả năng đặt người tu vào vị trí không mâu thuẫn ở những nơi mà người thiếu trí tuệ đều sẽ thấy đầy mâu thuẫn. Có nhiều loại trí tuệ, trí tuệ chứng vô thường, trí tuệ chứng nhân vô ngã (con người không tự có một cách độc lập cố định), trí tuệ chứng tánh không giữa các phạm trù đối kháng (nói cách khác, giữa chủ thể và khách thể) và trí tuệ chứng sự không có tự tánh. Mặc dù có nhiều loại trí tuệ, nhưng chính yếu vẫn là trí tuệ chứng tánh Không.

Trạng thái thanh tịnh có được là nhờ sự kết hợp thuần nhất giữa phương tiện và trí tuệ, được thể hiện qua âm cuối, HUM [hồng]. Âm này ứng vào trạng thái bất nhị, không thể phân chia. Trong hiển thừa, phương tiện và trí tuệ bất nhị có nghĩa là phương tiện ảnh hưởng trí tuệ, và trí tuệ ảnh hưởng phương tiện. Trong mật thừa, sự hợp nhất này ứng vào một niệm tâm thức trong đó phương tiện và trí tuệ đồng loạt hiện hành. Nói về chủng tự của năm vị Thiền Phật, HUM là chủng tự của Bất Động Phật [Akshobhya], sự đứng yên không gì có thể lay chuyển nổi.

Vậy Lục Tự Đại Minh Chú, Om mani padme hum, có nghĩa là dựa vào đường tu kết hợp thuần nhất phương tiện và trí tuệ mà người tu có thể chuyển hóa thân miệng ý ô nhiễm của mình thành thân miệng ý thanh tịnh của Phật. Thường nói người tu không thể tìm Phật ở bên ngoài, tất cả mọi nhân tố dẫn đến giác ngộ đều sẵn có từ bên trong. Đức Di Lạc Từ Tôn có dạy trong bộ Tối Thượng Đại Thừa Mật Luận (Uttaratantra) rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh trong tâm. Chúng ta ai cũng mang sẵn trong mình hạt giống thanh tịnh, cốt tủy của Như Lai (Tathatagarbha – Như lai tạng), đó là điều cần nuôi nấng phát triển đến mức tột cùng để bước vào địa vị Phật đà.

🙏 Đức Phật A-Di-Đà(Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lư...
31/10/2018

🙏 Đức Phật A-Di-Đà(Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ - nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang – ánh sáng vô lượng).
Dạy: “Kẻ nào trì tụng thần chú Sáu âm trong lúc quay KIM LUÂN, phước của kẻ đó ngang với 1000 vị Phật”. Đức Liên-Hoa-Sanh bảo “ngay cả với kẻ thiếu kiên trì, vẫn có được những năng lực kỳ diệu. Những ai tinh tấn trì tụng Sáu âm và quay KIM LUÂN thì không nghi ngờ gì nữa họ sẽ đạt được thập địa”.

🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏Đi đến chùa làm lễ hay chào nhau lúc gặp, Chư Tôn đức và Phật tử tu tập tại các chùa theo pháp môn Tịnh độ thườn...
31/10/2018

🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏Đi đến chùa làm lễ hay chào nhau lúc gặp, Chư Tôn đức và Phật tử tu tập tại các chùa theo pháp môn Tịnh độ thường hay niệm A Di Đà Phật. Vì sao lại như vậy?
Muốn hiểu được điều này, chúng ta cần nắm rõ, Ðức Phật A Di Ðà có công đức rất lớn và hạnh nguyện rất quảng đại. Ngài có nhân duyên hóa độ chúng sanh ở thế giới Ta-Bà này rất nhiều.
Ngay từ thời đức Phật Thích Ca tại thế, Ngài đã nói rõ về 48 hạnh nguyện và pháp môn Tịnh độ mà đức Phật A Di Đà đưa ra và hành trì.
Theo đó, những người tu tập theo pháp môn này, từ thiện tri thức đến hạng thứ dân nếu ai chuyên tu, nhất tâm niệm Phật A Di Đà, khi lâm chung sẽ được tái sinh về cõi Tịnh độ, tiếp tục tu tập với Ngài.
Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở phẩm thí dụ, hóa thành có chép: "Ðức Phật A Di Ðà, kiếp trước là con của Đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai. Ngài nhờ công đức thường giảng kinh Pháp Hoa cho chúng sinh nghe, nên thành Phật hiệu là A Di Ðà, ở cõi Tây phương Cực lạc".
Còn ở Kinh Quán Phật Tam - Muội - Hải thì ghi: "Ðời quá khứ Ngài làm Tỳ kheo, chăm lòng kính lễ quán tưởng tướng lông mày trắng của Đức Phật Không Vương, nên được thọ ký là Phật hiệu là A Di Ðà".
Qua Kinh Bi Hoa cũng nêu: Ðời quá khứ hằng hà sa kiếp trước, Ngài là vua Chuyển Luân tên là Vô Tránh Niệm. Ngài có một quan Ðại thần tên là Bảo Hải, rất giàu lòng tín ngưỡng.
Một hôm vua nghe Đức Phật Bảo Tạng đến thuyết pháp tại vườn Diêm Phù ở gần bên thành, Ngài với quan Ðại thần Bảo Hải liền đến nghe và rất hài lòng.
Vua phát tâm thỉnh Phật và đại chúng vào vương cung cúng dường trọn ba tháng để cầu phúc báu. Ðức Phật khuyên vua nên phát Bồ đề tâm cầu đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Khi đó Đức Phật Bảo Tạng liền phóng hào quang sáng ngời, soi khắp cả thế giới của chư Phật mười phương, cho chúng hội đồng thấy. Bảo Hải đại thần liền tâu với vua Vô Tránh Niêm: "Nay Bệ hạ nhờ oai thần của Phật, được thấy các thế giới, vậy Bệ hạ muốn cầu lấy thế giới nào?".
Vua đảnh lễ Phật, quỳ gối chắp tay phát lời đại nguyện, cầu xin sau khi tu hành thành Phật, quốc độ và nhân dân của Ngài, đều được trang nghiêm thanh tịnh. Do nhân duyên ấy, sau Ngài thành Phật hiệu là A Di Ðà ở cõi Tây phương Cực lạc.
Đến thời Phật Thích Ca thì Ngài khai thị (PV – nói): "Ðời quá khứ lâu xa, cách hơn 10 kiếp, có một nước tên là Diệu Hỷ, vua cha là Nguyệt Thượng Luân Vương, mẹ là Thù Thắng Diệu Nhan.
Vương hậu sanh ra ba người con: người con trưởng là Nhật Nguyệt Minh, người con thứ hai là Kiều Thi Ca, người con thứ ba là Nhật Ðế Chúng.
Khi ấy có Đức Phật ra đời hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai. Kiều Thi Ca bỏ ngôi vinh quí theo Phật Thế Tự Tại xuất gia, thọ Kỳ kheo giới, Phật cho hiệu là Pháp Tạng Tỳ kheo.
Ngài Pháp Tạng đối trước Phật, pháp 48 lời nguyện rộng lớn, độ khắp tất cả mười phương chúng sanh; nếu có một nguyện nào chẳng viên mãn, thì Ngài thề chẳng thành Phật. Khi ấy chư thiên rải hoa, tán thán, quả đất rúng động, giữa không trung có tiếng khen rằng:
"Pháp Tạng quyết định sẽ thành Phật hiệu là A Di Ðà".
Qua đó cho chúng ta thấy đức Phật A Di Đà có rất nhiều tiền kiếp. Dù ở kiếp nào Ngài cũng tu tập và quyết định cứu khổ chúng sanh. Ở ngôi vị Thái tử, Ngài cũng từ bỏ để xuất gia tu thành quả Phật.
Không chỉ có thế, trong 48 đại nguyện của đức Phật A Di Đà, Ngài cũng chỉ rõ nếu như có chúng sanh nào lúc lâm chung nhất tâm niệm danh hiệu Ngài 10 lần thì sẽ được Phật A Di Đà và đại chúng đến đưa về cõi Tịnh độ, trừ những người phạm tội ngũ nghịch và hủy báng Chính pháp.
Ngoài ra vì pháp môn Tịnh độ, chuyên tâm niệm Phật, mỗi người dù ở đâu và làm gì đều có thể niệm Phật nên rất được thịnh hành trong hàng Phật tử
Chính vì điều này nên rất đông Phật tử tại Việt Nam tu tập theo pháp môn niệm Phật. Dù ở đâu và làm gì, họ cũng đều niệm A Di Đà Phật.

🙏🙏 KIM LUÂN CÓ NHẠC CẮM ĐIỆN 🙏🙏🙌🙌 CHỨA 1000 - 5 TRIỆU BIẾN CHÚ OM MANI PADME HUM 🌻🙏🙏Theo Kinh điển Phật Giáo, việc lắp đ...
26/10/2018

🙏🙏 KIM LUÂN CÓ NHẠC CẮM ĐIỆN 🙏🙏

🙌🙌 CHỨA 1000 - 5 TRIỆU BIẾN CHÚ OM MANI PADME HUM 🌻🙏

🙏Theo Kinh điển Phật Giáo, việc lắp đặt Kim Luân mang lại lợi ích ý nghĩa vô cùng lớn lao :

🔸Các bậc Thầy Kim Cương thừa dạy rằng một ngôi nhà có Lim Luân sẽ được bảo hộ như Potala - cõi Tịnh độ của Đức Quán Âm mà không cần có sự sắp đặt phong thủy hoặc an vị nào khác.
🔸Khi Kim Luân được đặt trên mặt đất, tất cả chúng sinh chạm vào mặt đất đó cũng thoát khỏi mọi khổ đau.
🔸Để một Kim Luân trong nhà sẽ mang lại từ trường an lạc, quân bình vô cùng tích cực nhờ năng lượng của những câu thần chú bên trong kim luân lan toả.
🔸Kim Luân gồm một hình trụ xoay trên một trục ở trung tâm. Những cuộn kinh ghi chân ngôn được quấn bên trong quanh trục này và vỏ bên ngoài thường chạm khảm chân ngôn Lục Tự Đại Minh “Om Mani Padme Hum" của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

🏡Có thể đặt Kim Luân ở trong nhà, phòng khách, phòng thờ, phòng ngủ, công ty, cửa hàng,... đều rất lợi lạc và an bình.

🙏 Kim Luân Cỡ Đại : 📌 Chiều cao : 48cm
📌 Chiều ngang : 20cm

🙏 Kim Luân Cỡ Nhỏ : 📍 Chiều cao : 22 cm
📍 Chiều ngang : 9cm

🍃Gồm 41 bài thần chú phát ra và có thể thay đổi bài.
🍃Có thể tăng, giảm âm lượng, hoặc tắt nhạc thì Kim Luân vẫn quay, khi không sử dụng thì rút nguồn điện.

🔅Có 2 màu vàng và đỏ cho quý đạo hữu lựa chọn.

Theo truyền thuyết Phật giáo Tây Tạng, Đức đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát vì xót thương chúng sanh đã rơi lệ. Giọt lệ ...
26/10/2018

Theo truyền thuyết Phật giáo Tây Tạng, Đức đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát vì xót thương chúng sanh đã rơi lệ. Giọt lệ của Người đã hóa thành 21 vị Độ Mẫu.
Dưới đây là 21 câu thần chú của từng vị Độ Mẫu :
1. Lục Độ Mẫu. ( Tara xanh )
OM TARE TUTARE TURE SOHA
2. Cứu Tai Nạn Độ Mẫu.
OM BANZA TARE SARVA BIGANEN SHINDHAM KURU SOHA
3. Cứu Thủy Tai Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA LAM LAM BHAM
DZALA BHAYA SHINDHAMKURU SOHA
4. Cứu Địa Tai Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA BHAM BHAM
DZALA BHAYA SHINDHAM KURU SOHA
5. Cứu Hỏa Tai Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA RAM RAM DZALA
BHAYA SHINDHAM KURU SOHA
6. Cứu Phong Tai Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA YAM YAM DZALA
BHAYA SHINDHAM KURU SOHA
7. Tăng Phước Tuệ Độ Mẫu.
OM RATANA TARE SARVA LOKA JANA PITEYA
DARA DARA DIRI DIRI SHENG SHENG DZA DZAANJIA NA
BU SHENG KURU UM
8. Cứu Thiên Tai Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA EH EH MAHA
HANA BHAYA SHINDHAM KURU SOHA
9. Cứu Binh Tai Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA DIK DIK
DIKSHENA RAKSHA RAKSHA KURU SOHA
10. Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA RANDZA DUSHEN
DRODA SHINDHAM KURU SOHA
11. Cứu Đạo Nạn Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE MAMA SARVA DZORA BENDA
BENDA DRKTUM SOHA
12. Tăng Uy Quyền Độ Mẫu.
OM BEMA TARE SENDARA HRI SARVA LOKA WASHUM
KURU HO
13. Cứu Ma Nạn Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE SARVA DUSHING BIKANEN
BHAM PEH SOHA
14. Cứu Súc Nạn Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE SARVA HAM HAM DUSHING
HANA HANA DRASAYA PEH SOHA
15. Cứu Thú Nạn Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE SARVA HEH HEH DZALEH
DZALEH BENDA PEH SOHA
16. Cứu Độc Nạn Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE SARVA DIKSHA DZALA YAHA
RAHA RA PEH SOHA
17. Phục Ma Độ Mẫu.
OM GARMA TARE SARWA SHATDRUM BIGANEN MARA
SEHNA HA HA HEH HEH HO HO HUNG HUNG BINDA BINDA PEH
18. Dược Vương Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE SARVA DZARA SARVA DHUKKA
BRASHA MANAYA PEH SOHA
19. Trường Thọ Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE BRAJA AYIU SHEI SOHA
20. Bảo Nguyên Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE DZAMBEH MOHEH DANA METI
SHRI SOHA
21. Như Ý Độ Mẫu.
OM TARE TUTARE TURE SARVA ATA SIDDHI SIDDHI
KURU SOHA
Thần chú ở dưới thì bất kỳ ai thành tâm đọc tụng hàng
ngày sẽ vô cùng linh ứng với từng vị độ mẫu.
Để có tất cả tác dụng trên thì :
OM TARE TUTARE TURE SVAHA
Thần chú tara xanh , tôn chính trong 21 tôn Tara

Lời bàn: Trong 21 vị Độ Mẫu thì Mật tông chọn pháp tu Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu kiêm nhiếp cả 21 Độ Mẫu. Bạch Độ Mẫu là thức thứ 9 tức bạch tịnh thức, toàn thể hư không trong vũ trụ là thân Bạch Độ Mẫu, trong Mật Tông khi tu trì pháp Bạch Độ Mẫu phải quán tưởng trong hư không có một vị thân thể lớn ngang với hư không. Muốn tu trì pháp của 21 vị Độ Mẫu đầu tiên phải tu trì Bạch Độ Mẫu, là không đại của pháp thân sau đó sẽ tu trì Cứu địa tai Độ Mẫu đại biểu địa đại của pháp thân, tức toàn thể đại địa đều là thân ngài. Kế là Cứu Thủy Tai Độ Mẫu đại biểu thủy đại của pháp thân, tức toàn thể nước trong vũ trụ là thân ngài. Kế là Cứu Hỏa Tai Độ Mẫu, Cứu Phong Tai Độ Mẫu. Lục Độ Mẫu kiêm nhiếp 21 Độ mẫu, còn gọi là Ngũ Đại Hư Không Tạng Bồ Tát. Chúng ta đã biết vật chất được cấu tạo từ những hạt nguyên tử cực vi không ngừng chuyển động, chúng chính là nguồn năng lượng của thế giới vật chất này, thuộc về thân thể của Ngũ Đại Hư Không Tạng hoặc gọi là ngũ đại của Pháp thân. Thế giới chúng ta đang sinh sống chính là đang sống trong pháp thân Ngũ Đại Hư Không Tạng vậy. Vì thế tu trì pháp Lục Độ Mẫu có thể điều khiển nguyên tử lực của thế giới vật chất.

Ý Nghĩa Câu Chú:OM MANI PADME HUMOm Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, được xem là thần chú cầu Quán Thế Âm ...
26/10/2018

Ý Nghĩa Câu Chú:OM MANI PADME HUM

Om Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, được xem là thần chú cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara) và là thần chú quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nó còn được mệnh danh là “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” tức là “Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ”.

Om : Quy mệnh
Mani : Viên ngọc như ý
Padme : Bên trong hoa sen
Hum : Tự ngã thành tựu

Có thể dịch câu này là Om, ngọc quý trong hoa sen, Hum. (Om, to the Jewel in the Lotus, hum). Theo âm Hán-Việt, câu này được đọc là Úm ma ni bát ni hồng hoặc Án ma ni bát mê hồng.

Thông thường người ta không giảng nghĩa thần chú, nhưng ở đây cần nói thêm là: “ngọc quý” biểu hiện cho Bồ-đề tâm (bodhicitta), “hoa sen” chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên thần chú có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Đối với Phật giáo Tây tạng thì Om Mani Padme Hum chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới.

CÔNG NĂNG CỦA BIỂU TƯỢNG KALACHAKRA (KIM CANG THỜI LUÂN)(Mạn đà la Kalachakra)1. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra t...
24/10/2018

CÔNG NĂNG CỦA BIỂU TƯỢNG KALACHAKRA (KIM CANG THỜI LUÂN)

(Mạn đà la Kalachakra)

1. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó xem như có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện.

2. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn động đất mà chết.

3. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn về nước mà chết.

4. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn về gió mà chết.

5. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị nạn về lửa mà chết.

6. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các nạn còn lại trong bát nạn mà chết.

7. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các tinh linh làm hại.

8. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các ma quỷ làm hại.

9. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó các vong linh nhìn thấy sẽ được vãng sinh về cõi Tịnh Độ.

10. Nơi nào có treo biểu tượng Kalachakra thì nơi đó không bị các âm binh, cô hồn của các thế lực tà giáo, thế lực xấu làm hại.

Chú Đại Bi (Tiếng Phạn) cho Quí Phật Tử muốn học !Namo Ratna Trayaya,Namo Arya JnanaSagara, Vairochana,Byuhara Jara Tath...
24/10/2018

Chú Đại Bi (Tiếng Phạn) cho Quí Phật Tử muốn học !

Namo Ratna Trayaya,
Namo Arya Jnana
Sagara, Vairochana,
Byuhara Jara Tathagataya,
Arahat e , Samyaksam Buddhaya,
Namo Sarwa Tathagate Bhyay,
Arhata Bhyah,
Samyaksam Buddhe Bhyah,
Namo Arya Avalokite
shoraya Bodhisattvaya,
Maha Sattvaya,
Maha Karunikaya,
Tadyata , Om Dara Dara,
Diri Diri, Duru Duru
Itte We, Itte Chale Chale,
Purachale Purachale,
Kusume Kusuma Wa Re,
Ili Milli, Chiti Jvalam, Apanaye Shoha !

HÔM NAY ADD XIN MẠN PHÉP NGỒI ĐÂY ĐỂ VIẾT VỀ TIỂU SỬ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ Ý NGHĨA VỀ 5 MÀU SẮC TRONG PHẬT PHÁP TÂY TẠ...
21/10/2018

HÔM NAY ADD XIN MẠN PHÉP NGỒI ĐÂY ĐỂ VIẾT VỀ TIỂU SỬ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ Ý NGHĨA VỀ 5 MÀU SẮC TRONG PHẬT PHÁP TÂY TẠNG

(Nếu có điều sai phạm xin được Quí đồng đạo Hoan Hỷ bỏ qua)

Phật giáo Tây Tạng và Văn vật trong Phật giáo Tây Tạng

Trang 5 :

2. Văn vật trong Phật giáo Tây Tạng:

Phật giáo Tây Tạng cuốn hút với nhân loại không chỉ bởi những tinh hoa pha trộn giữa Đại thừa phái (Mahayana), Mật tông (Tantrayana), và tôn giáo cổ Tây Tạng (với Bon giáo là điển hình) mà còn bởi những văn vật để lại cho đời. Có lẽ không nơi đâu trên trái đất này lại quy tụ đầy đủ và nhiều di chỉ Phật giáo như Tây Tạng, từ đền chùa thành quách đại viện tiểu viện cho đến tượng Phật, kinh sách luật tuyển, cờ phướn; rồi đồ dùng trong lễ bái, tán tụng, cúng dường, trì nghiệm, hộ ma, khuyến đạo … dường như không thống kê nào kể xiết! Trong bài viết ngắn ngủi này, người viết không đủ khả năng và cũng không có tham vọng tổng kết hết những tinh tuý của nơi đây, chỉ muốn dành đôi dòng nhắc đến những văn vật thường gặp trên đường khám phá Tây Tạng

a. Đại kỳ ngũ sắc:

Đi thăm Tây Tạng nói riêng và các quần thể Phật giáo nói chung, du khách hay bắt gặp các cờ phướn 5 màu tung bay trong gió. Nếu để ý kĩ, cờ ngũ sắc Tây Tạng có 5 màu (trắng, đỏ, lục, vàng, lam) hơi khác so với lá cờ Phật giáo (trắng, đỏ, cam, vàng, lam). Một trong các lý do có thể giải thích là: lá cờ Phật giáo chính thức ra đời năm 1889, còn Phật giáo Tây Tạng mà ảnh hưởng bắt nguồn từ Ấn Độ giáo thì đã có từ lâu đời, trải qua thời gian sẽ xuất hiện vài sai khác, tuy nhiên điều này không làm thay đổi ý nghĩa biểu trưng. (hình 1 )

Số 5 không chỉ tượng trưng cho Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) tương sinh tương khắc làm nên vạn vật, còn ứng với Ngũ Trí của Mật tông miêu tả về trí của con người (Pháp giới trí, Đại viên kínha trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tác trí), đồng thời hợp với Ngũ Uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức) là 5 yếu tố tạo thành thân tâm, và là Ngũ Bộ Chú – nghi thức trì niệm của Mật Giáo (Tịnh Pháp Giới, Văn Thù Nhất Tự Hộ Thân, Lục Tự Đại Minh, Chuẩn Đề Cửu Thánh, và Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh); nhưng trên hết là biểu thị sức mạnh và sự thống nhất giữa Ngũ Phương và Ngũ Phật: ( Hình 2 )

Ngũ Phật (Five Wisdom Buddhas) có thể coi là biểu hiện siêu việt nhất trong thế gian, các vị này là thầy của các Bồ Tát. Đồng thời, trong mỗi thời đại loài người, các vị lại hoá thân thành Phật lịch sử – có hình dạng người sống trên thế gian. Trong thời đại chúng ta, vị Phật lịch sử đó chính là Phật Thích Ca Mầu Ni (Shakyamuni Buddha), còn vị Phật được tin rằng sẽ xuất hiện trong tương lai (Future Buddha) là Phật Di Lặc (Maitreya Buddha). Vì thế mỗi khi nhắc đến Ngũ Phương Phật, người ta sẽ nhắc đến vị Phật lịch sử và vị Bồ Tát tương ứng:

- Trung ương: Đại Nhật Như Lai (Tathagata); Phật lịch sử là Ca-la-ca-tôn-đại (Krakuccanda) và Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra)

- Hướng Đông: Bất Động Như Lai (Aksobhya); Phật lịch sử là Ka-na-ca-mâu-ni (Kanakamuni) và Kim Cương Bồ Tát (Vajrapani)

- Hướng Nam: Bảo Sinh Phật (Ratnasambhava); Phật lịch sử là Ca-diếp (Kasyapa) và Bảo Thủ Bồ Tát (Ratnapani)

- Hướng Tây: Di Đà Phật (Amitabha); Phật lịch sử là Thích-ca-mâu-ni (Shakyamuni) và Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara)

- Hướng Bắc: Bất Không Thành Tựu Phật (Amoghasiddhi); Phật tương lai là Di-lặc (Maitreya) và Phổ Chùy Thủ Bồ Tát (Vishvapani)

Quan niệm trên chỉ xuất hiện từ khi Đại thừa Phật giáo ra đời, và càng được củng cố bởi Mật tông Tây Tạng, điều đó cho thấy sự khác biệt và phức tạp, bao hàm muôn yếu tố trong Phật giáo Tây Tạng. Đi khắp cao nguyên Thanh-Tạng, du khách sẽ gặp rất nhiều nơi thờ cúng Ngũ Phật cũng như các Phật lịch sử và chư vị Bồ Tát, bên cạnh các vị Tạng vương và Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma. Những sự sắp xếp trên luôn có nghiêm luật chặt chẽ mà hiếm có ai hiểu được, thậm chí phần lớn chúng ta không bao giờ hiểu rõ được mà chỉ biết chiêm bái để kính phục trí tuệ, công sức và sự sáng tạo của người xưa!

Thỉnh Phật cho Kim luân
21/10/2018

Thỉnh Phật cho Kim luân

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84355776345

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Mật Tông - Pháp Bảo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share