Văn Cao còn mãi

Văn Cao còn mãi Văn Cao còn là một họa sĩ, nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị. Sau vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm, Văn Cao phải đi học tập chính trị.
(4)

Văn Cao tên khai sinh là Nguyễn Văn Cao(15 tháng 11 năm 1923 – 10 tháng 7 năm 1995) là một nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, chiến sĩ biệt động ái quốc người Việt Nam. Ông là tác giả của ca khúc Tiến quân ca, quốc ca chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà. Văn Cao (15 tháng 11, 1923 – 10 tháng 7, 1995) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của "Tiến quân ca", quốc ca của Việt Nam, đồng

thời cũng là một trong những gương mặt quan trọng nhất của tân nhạc. Thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong, Văn Cao tham gia nhóm Đồng Vọng, sáng tác các ca khúc lãng mạn "Bến xuân", "Suối mơ", "Thiên Thai", "Trương Chi",... ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. Sau khi gia nhập Việt Minh, Văn Cao viết "Tiến quân ca", "Trường ca Sông Lô", "Tiến về Hà Nội",... trở thành nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến. Trừ "Tiến quân ca", ca khúc của ông cũng giống như các nhạc phẩm tiền chiến khác, không được lưu hành ở miền Bắc. [cần dẫn nguồn] Đến cuối thập niên 1980, những nhạc phẩm này mới được biểu diễn trở lại. Năm 1996, một năm sau khi mất, Văn Cao được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt trao giải đầu tiên. Ông cũng đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Độc lập hạng nhất

Tên ông cũng được đặt cho nhiều con phố đẹp ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Nam Định.

CÓ MỘT HUẾ RIÊNG CỦA VĂN CAO                        Nguyễn Trọng TạoSau đại hội nhạc sĩ, tôi trở về Huế điện ra cáo lỗi ...
15/08/2026

CÓ MỘT HUẾ RIÊNG CỦA VĂN CAO
Nguyễn Trọng Tạo

Sau đại hội nhạc sĩ, tôi trở về Huế điện ra cáo lỗi với anh Văn vì kẹt nỗi tàu xe nên không ghé nhà thăm anh được, dù anh hẹn dành một chai rượu ngoại đợi tôi đến mở. Chị Băng với giọng đầy lo lắng báo tôi biết là anh bị đau, đang chuẩn bị vào bệnh viện Hữu nghị. Linh tính bảo tôi khó được gặp lại anh lần nữa. Vậy mà ba tuần sau, được Nguyễn Thụy Kha báo tin anh Văn đã đi hơn một giờ rồi, tôi vẫn không tin đó là sự thật. Bởi anh là một con người tài năng với nhân cách quá lớn.
Một con người có nhiều con người, và nhiều con người ấy làm nên một con người Văn Cao. Văn Cao nhạc, Văn Cao thơ, Văn Cao họa... cùng với Văn Cao hiệp sĩ trong đội ám sát của Cách mạng 1945, Văn Cao tiên tửu luôn bên đời cùng anh em bạn bè. Và một vinh dự hơn người mà lịch sử đã đoạt định cho anh:
Văn Cao Quốc ca Việt Nam.
Phải mất nửa giờ sau tôi mới định thần lại được và gọi điện báo tin anh Văn qua đời cho bạn bè và các cơ quan ở Huế. Hầu như ại nhận được tin này cũng lặng đi đột ngột. Ngoài sự ngưỡng mộ một tài năng lớn, những người Huế đều có riêng một hàm ơn đối với anh, đấy là nhờ có Văn Cao mà Huế có bài thơ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, và bản nhạc Thiên thai bất hủ từ năm 1940-1941. Lúc ấy Văn Cao mới 17 tuổi, trong một chuyến lãng du về phương Nam anh đã dừng lại Huế, lênh đênh trên sông Hương cùng những điệu hát Nam ai, Nam bình rỉ ra nước mắt, cùng những "vạt áo xanh" kỹ nữ đẹp đến não nùng. Và bài thơ của anh từ dạo đó, hôm nay vẫn còn được ngâm lên quyến rũ trong những con đò thơ nhạc đêm đêm trên "sông Huế".

Em cạn lời thôi anh dứt nhạc

Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh
Một đêm đàn lạnh trên sông Huế

Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh.

Cùng với bài thơ ấy là bài hát Trên sông Hương ra đời. Dù bài hát này đã được anh hát trực tiếp trước micrô của đài phát thanh Sài Gòn sau khi rời Huế, nhưng không được hài lòng lắm. Trở về Hải Phòng, Văn Cao đã viết lại bài hát này. Thế là
Trên sông Hương đã trở thành Thiên thai của lòng anh, và âm hưởng của bài hát này suốt hơn thế kỷ qua luôn vang vọng trên chính xứ sở đã sinh ra nó:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên...

Bài hát Thiên thai đã được các nhà du hành vũ trụ mang theo lên không trung. Và khi chọn nhạc hiệu cho đài phát thanh
Thừa Thiên - Huế, có người đã đề nghị âm hưởng của Thiên thai nhưng không thành vì "buồn quá". Thôi "Tiếng phách ròn lắng xa. Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta...."
Vậy mà 47 năm sau Văn Cao mới có dịp trở lại Huế. Ấy là sau khi tôi trở về "định cư" ở cố đô, anh Văn bảo tôi: "Tao nhớ Huế lắm, nhưng mần răng mà vô được chừ?". Tôi bàn với Hoàng Phủ Ngọc Tường (lúc đó là Tổng thư ký Hội Vặn nghệ) mời anh
Văn vào Huế chơi. Anh Văn rất mừng khi nhận được lời mời từ
Huế, chưa rời Hà Nội anh lại đã có thơ về Huế. "Về Huế xưa -
Đường nối mưa dài". Đã bao người làm thơ về Huế, nhưng thơ
Văn Gao vẫn là những giọt tinh chất của tình anh với Huế.

Giọt người chia ly

Giọt người yêu thương

Giọt nào không vương

Giọt người bơ vơ

Giọt người theo mưa về phố.

Anh trở lại Huế giữa mùa xuân đẹp trời năm 1987. Biết nhà tôi ở gần khách sạn, chưa kịp nghỉ ngơi, anh giục chị cầm chai vôtca sang thăm nhà. Bạn bè ở Huế biết anh vào, đố lên khách sạn rồi dồn cả về nhà tôi với nem Huế, rượu Huế, và những giọng hát mang sẵn trong lồng ngực. Thế là cụng ly, đàn hát.
Cả một chương trình nhạc Văn Cao như không bao giờ dứt. Có ai đó nhắc tới Phạm Duy. Và anh Văn Cao đã rất xúc động khi nghe lại vài ba bài hát tiền chiến của người bạn thủa hàn vi...
Những ngày ngắn ngủi ở Huế cuốn anh Văn ngập lụt trong vui buồn kim cổ. Anh phát hiện ra bài vị của vợ Tự Đức đặt cao hơn bài vị vua, và bảo rằng "Vua Tự Đức cùng hội sơ-vơ với mình".
'. Anh nhấp rượu làng Chuồn và khẳng định ở đây cũng có một "nền văn hóa rượu" ... và cái "nền văn hóa rượu" ấy đã làm anh say nghiêng say ngả trên phá Tam Giang, đến nỗi chị
Băng ngăn không nổi, dọa anh uống nữa là chị sẽ nhảy luôn xuống phá. Anh đùa chị: "Dưới thuyền có lưới đấy". Nhờ thế mà anh lại có được bài thơ Đêm phá Tam Giang thật hay:

Tôi níu lấy mảnh lưới

Lưới là cái cuối cùng

Đang hắt tôi xuống biển.

Rồi huyết áp anh bị tụt, phải vào trung tâm cấp cứu. Cắc bác sĩ, giáo sư giỏi nhất của bệnh viện Trung ương Huế túc trực bên anh. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, bạn bè văn nghệ và những người ngưỡng mộ đến với anh. Anh quá yếu, phổi bị khô... Nhưng chỉ một ngày sau, tỉnh táo trở lại, anh đã rỉ tai tôi:

Tạo lén kiếm cho anh chút rượu"!...

Thơ ca nhạc họa và rượu là những thứ không thể thiếu với Văn Cao. Cũng như Huế, sẽ trống trải biết bao nếu không có anh, không có Thiên thai, không có Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, và bây giờ là Huế xưa, Đêm phá Tam Giang...
Khi tôi đang viết những dòng này thì từ quán cà phê cạnh nhà vọng lên những âm điệu của Văn Cao. Tôi dừng lại lắng nghe từ Buồn tàn thu đến Thiên thai, từ Trương Chi đến Suối mơ, từ Đàn chim Việt tới Cung đàn xưa...
Phải chăng người Huế đã có một Huế riêng của Văn Cao, một hạnh phúc vĩnh hằng của người nghệ sĩ đa tài.

Huế, 11-7-1995.
(nguồn FB Vinh The)

MỘT THOÁNG VĂN CAO. (Nhà văn, nhà thơ Phùng Quán)Hồi làm việc ở Vụ Văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ba...
14/08/2026

MỘT THOÁNG VĂN CAO.
(Nhà văn, nhà thơ Phùng Quán)

Hồi làm việc ở Vụ Văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ban B, cùng trong ngôi nhà 51, Ngô Quyền, Bộ Văn hóa. Lúc ấy giá gạo ngoài ở Thái Bình lên đến 3 đồng một ký. Người Thái Bình đói kéo nhau về Hà Nội ăn xin. Một buổi trưa tôi ngồi uống nước chè chén 5 xu (ghi sổ nợ) ở cái quán xế bên cửa Bộ. Chợt nhìn thấy Văn Cao cùng với Đoàn Văn Chúc, Giảng viên Trường Đại học Văn hóa vịn vai nhau, chếnh choáng, xiêu vẹo đi ngang qua. Tôi gọi hai anh vào uống nước, hút thuốc.
Lâu không gặp Văn Cao, tôi sửng sốt thấy gương mặt anh bạc trắng như tờ giấy, hai má hóp sâu, chòm râu lơ thơ làm cho khuôn mặt anh càng thêm nhọn hoắt. Trong quán lúc này có bốn năm người khách. Họ đều nhìn anh. Và tôi biết chắc là họ không biết anh là ai.
- Anh hút thuốc lào đi. Tôi đưa điếu cày cho anh, nói với chị chủ quán: Chị cho tôi gói thuốc lào. Văn Cao chậm rãi thông điếu, hỏi chị chủ quán:
- Thuốc lào của chị là thuốc lào Tây hay thuốc lào ta?.
Chị chủ quán ngơ ngác:
- Làm gì có thuốc lào Tây ạ?
Tôi cười giải thích:
- Ý anh ấy muốn hỏi thuốc lào của chị là thuốc lào mậu dịch hay thuốc lào chui. Thuốc lào mậu dịch là thuốc lào Tây.
Chị chủ quán nói:
- Thế thì thưa ông anh, thuốc lào Tây ạ, em không có thuốc lào ta.
Một ông khách móc túi lấy gói thuốc lào bọc trong túi giấy bóng, đưa cho anh:
- Tôi có thuốc lào ta đây. Chính hiệu Tiên Lãng, mời ông ăn thử.
Văn Cao đỡ gói thuốc lào, vê một điếu bỏ vào nõ, nói với ông khách:
"Ăn thuốc" đó mới đúng là ngôn ngữ của người ghiền thuốc lào. Văn Cao rít một hơi tận sức, từ từ nhả khói.
- Đúng là chính hiệu Tiên Lãng, ông cho tôi xin thêm điếu nữa? Mời ông cứ tự nhiên.
Văn Cao hỏi tôi:
- Quán có tiền đó không, cho mình vay 5 đồng. Hai thằng từ sáng đến giờ chỉ toàn rượu suông, muốn đi ăn bát cháo.
- Em chỉ có ba đồng, anh cầm tạm.
Văn Cao bỏ tiền vào túi. Hai người đứng lên, lại vịn vào nhau, xiêu vẹo dắt nhau đi.
Ông khách cho thuốc lào ái ngại nhìn theo hai người đi khuất ở ngã tư Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo:
- Nhìn cái nước da trắng bệch của ông ta mà tôi phát sợ. Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa.
Tôỉ hỏi ông:
- Ông có biết ông ấy là ai không?
- Không, tôi đoán là dân ở Thái Bình mới lên. Từ hôm gạo lên 3 đồng một ký, dưới đó nhiều người đứt bữa…
Tôi nói: - Ông ta là người đã viết một bài hát mà mỗi lần hát lên, cả nước phải đứng nghiêm, kể cả cụ Hồ. Ông khách trợn tròn mắt: - - - Ông ta là nhạc sĩ Văn Cao?
- Đích thị là Văn Cao!
Ông khách đang uống dở hớp nước, ngồi ngẩn ra một lúc lâu như người bị nghẹn, rồi buông lửng một câu:
- Thế thì còn ra thế nào nữa…!
Lát sau chị Băng từ trong cửa Bộ đi ra. Vừa nhìn thấy tôi, chị túm lấy hỏi:
- Từ sáng tới giờ anh có thấy anh Văn đi ngang qua đây không? - Anh vừa đi cách đây hai mươi phút. Anh hỏi vay tôi năm đồng, tôi chỉ có ba đồng đưa cho anh.
- Có khổ thân tôi không! Ở nhà khách người ta đợi suốt từ sáng tới gần trưa.
- Khách ở đâu đến mà quan trọng thế? Chắc là nhà báo quốc tế đến phỏng vấn anh về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.
Chị Băng nhăn nhó khổ sở: Khách từ Hà Giang xuống, ở Xí nghiệp chế biến chè. Họ muốn nhờ anh Văn vẽ cho cái nhãn chè. Người ta đem xuống 50 đồng với 10 gói chè loại 1. Chờ mãi không được thế là người ta đem tiền, đem chè đi nhờ họa sĩ khác.
Nghe chị kể tôi cũng thầm tiếc cho anh. 50 đồng với 10 gói chè Hà Giang loại 1. Chao ôi, thật đáng tiếc!
Hôm sau tôi gặp Văn Cao, kể lại chuyện hôm qua, hỏi anh:
- Sao anh lại bỏ dở một cái đơn đặt hàng ngon lành thế? Hay anh quên?
- Mình nhớ chứ, chỉ cần ngoạch trong nửa tiếng là có 50 đồng… Nhưng mình bỏ đi lang thang uống rượu suông với thằng Chúc và phải hỏi vay con gái.
Anh lắc đầu: Mình rất cần tiền mà cũng vô cùng chán tiền…

(Ps:Rất. Rất nhiều người viết về Văn Cao... nhưng lẽ Phùng Quán viết về Văn Cao là lay động nhất bởi chất mộc và thật trong con người Phùng Quán.)☆

TÁC GIẢ QUỐC CA VẼ TÁC GIẢ QUỐC KỲVăn Cao là tác giả Quốc ca, thầy giáo Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ.Dù chưa một l...
06/08/2026

TÁC GIẢ QUỐC CA VẼ TÁC GIẢ QUỐC KỲ

Văn Cao là tác giả Quốc ca, thầy giáo Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ.

Dù chưa một lần gặp gỡ, nhưng thông qua lời kể của nhà văn Sơn Tùng - một bức họa về tác giả Quốc kỳ đã ra đời. Xung quanh câu chuyện này, không chỉ gợi lên huyền thoại liên tài, những người tài luôn kính trọng nhau, mà còn nêu cao tinh thần nhân văn cao cả của người chiến sĩ cách mạng.

Họa chân dung qua lời kể

Bài hát “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao (quê xã Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định) sáng tác vào năm 1944, được Bác Hồ giới thiệu để Quốc dân Đại hội quyết định làm Quốc ca từ Cách mạng tháng Tám 1945.

Trước đó khoảng 5 năm, trong vai trò là Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ, phụ trách cơ quan ấn loát truyền đơn lời kêu gọi của Đảng và báo Tiến Lên, thầy giáo Nguyễn Hữu Tiến (quê Lũng Xuyên, xã Yên Bắc, Duy Tiên, Hà Nam) đã thửa một lá cờ đỏ, đính ngôi sao vàng năm cánh chính giữa và lời giải thích: Hỡi những ai máu đỏ da vàng/ Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc/ Nền cờ thắm máu đào vì nước/ Sao vàng tươi, da của giống nòi.

Việc xác minh tác giả vẽ cờ Tổ quốc được nhà văn Sơn Tùng viết thành sách và từng được xuất bản. Từ bức ảnh gốc chụp được trong hồ sơ mật thám Pháp, nhà văn Sơn Tùng đã về Lũng Xuyên 16 lần để thu thập tư liệu về thầy giáo Nguyễn Hữu Tiến.

Một lần, nhà văn Sơn Tùng hỏi nhạc sĩ Văn Cao: “Trong “Tiến Quân ca”, khi viết Đoàn quân Việt Nam đi/Chung lòng cứu quốc/Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa/Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước… Đoàn quân Việt Nam đi/Sao vàng phấp phới/Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than…, anh đã thấy cờ đỏ sao vàng bao giờ chưa?”

Nhạc sĩ Văn Cao trả lời: “Lúc đó mình tưởng tượng chứ chưa hề nghe nói về cờ đỏ sao vàng”. “Vậy lần đầu tiên anh được thấy lá cờ đỏ sao vàng khi nào?” Nhạc sĩ Văn Cao đáp: “Ngày 17/8/1945, tôi đến dự cuộc mít tinh tại Nhà hát Lớn. Bất ngờ từ bao lơn của Nhà hát b**g ra một lá cờ đỏ sao vàng cỡ lớn. Tiếng hát “Tiến Quân ca” vang lên. Khi đó tôi đã khóc! Lần đầu tiên mình được khóc với niềm hạnh phúc lớn”.

Sau đó, trong lần chuyện trò cùng nhạc sĩ Văn Cao, nhà văn Sơn Tùng đã kể cho bạn nghe về “thầy giáo Hoài” Nguyễn Hữu Tiến. Trong tác phẩm “Hoa râm bụt” - NXB Thanh niên 2010, nhà văn Sơn Tùng viết: …Văn Cao sáng tác Tiến quân ca vào tháng 10/1944. Lời ca có đoạn: “Đoàn quân Việt Minh đi chung lòng cứu quốc. Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước… Đoàn quân Việt Nam đi sao vàng phấp phới. Dắt giống nòi quê hương, qua nơi lầm than”… Bằng con mắt thường anh chưa nhìn thấy, nhưng tâm linh anh đã “thấu thị” được cờ đỏ sao vàng… Bây giờ tôi mới thuật lại đầy đủ với anh Văn Cao. Anh nghe xong lúc đó đã 11 giờ đêm. Anh dốc chén rượu cuối cùng, ôm lấy tôi:

Đúng là tác giả Quốc kỳ! Tưởng kiến kỳ nhân. Cảm ơn Sơn Tùng đã cho mình được gặp tác giả Quốc kỳ - Nguyễn Hữu Tiến! Hãy dẫn mình về quê ông, mình cần, rất cần được phát sáng trong trực cảm.

Anh chị Văn Cao cùng vợ chồng tôi về quê ông Nguyễn Hữu Tiến. Ngày trở về Hà Nội, anh Văn Cao ngồi trên xe, ghé vào tai tôi: Không tính ngày hôm nay, trong hai ngày nữa, vào lúc 9 giờ, anh sang tôi, đừng gõ cửa, vào thẳng phòng vẽ của tôi…

Đúng hẹn, tôi bước vào phòng. Một Nguyễn Hữu Tiến hiển hiện trên giá vẽ Văn Cao! Tôi reo lên: A… Đúng rồi!... Đúng ông Nguyễn Hữu Tiến tác giả Quốc kỳ rồi!

Anh Văn Cao làm một hơi cạn chén. Tôi đưa tấm ảnh ông Nguyễn Hữu Tiến lưu trữ của Sở Mật thám. Anh cầm tấm ảnh, mắt ngời sáng nhìn sang giá vẽ gật đầu, nói nhỏ nhẹ: Chúng ta cùng một tâm tưởng!

Không thể nào quên ngày Đảng bộ huyện Duy Tiên tổ chức lễ tưởng niệm người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Hữu Tiến. Bí thư Tỉnh ủy Nam Hà Phan Điền và các đồng chí chủ chốt của tỉnh, tất cả cán bộ huyện Duy Tiên, đại diện các xã trong toàn huyện, hơn hai trăm đảng viên, cán bộ xã Yên Bắc về dự.

Tấm chân dung Nguyễn Hữu Tiến, tác giả Quốc kỳ bằng sơn dầu của Văn Cao, tác giả Quốc ca đặt lên bàn thờ nghi ngút khói hương. Hội trường im phăng phắc. Những tiếng khóc nấc lẫn vào tiếng đọc điếu văn trầm hùng da diết. Cả hội trường òa khóc lúc đồng chí Bí thư Tỉnh ủy mời cụ bà Nguyễn Hữu Tiến và người con gái gần năm chục tuổi lên nhận bằng Tổ quốc ghi công và tiền tử tuất!

Từ phía bàn thờ, cụ bà Nguyễn Hữu Tiến bước đến ôm choàng anh Văn Cao và tôi, nước mắt chan vào tiếng nói: “Nhờ có hai ông tôi được gặp lại ông nhà tôi đã ly biệt hơn bốn chục năm trời”.

Sao vàng năm cánh trước ngày khởi nghĩa
Vào tháng 7/2014, chúng tôi có chuyến về thôn Lũng Xuyên, xã Yên Bắc để thắp hương tại mộ liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Tại đây, chúng tôi gặp được con gái của tác giả vẽ cờ Tổ quốc - bà Nguyễn Thị Xu và người anh em thúc bá với liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến là ông Nguyễn Xuân Tửu.

Ông Tửu đem ra một tập hồ sơ về vụ thực dân Pháp kết án tử hình tác giả vẽ Quốc kỳ. Trong đó có thông tri tối mật số 4685-S năm 1940 thông báo về tin tình báo của cảnh sát đặc nhiệm Sài Gòn về hoạt động của Nguyễn Thị Minh Khai và Trương Xuân Chinh (tức Nguyễn Hữu Tiến).

Ông Tửu kể rằng, năm 1930 Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Hà Nam được thành lập gồm 7 người. Sau hơn một năm hoạt động, do Nghiêm Thượng Biền phản bội, hầu hết các đồng chí trong Thượng vụ Xứ ủy Bắc Kỳ đã bị bắt. Nguyễn Hữu Tiến cũng sa lưới mật thám Pháp.

Trong nhà lao, Đờ-loóc là chánh thanh tra mật thám Nam Định đã tra tấn Nguyễn Hữu Tiến đến vỡ cả bánh chè đầu gối chân phải. Năm 1932, trước tòa Thượng thẩm phiên xử tỉnh Hà Nam. Chủ tọa phiên tòa là chánh án Mooc-sê, dự thẩm là Ve-rông và Vũ Ngọc Hoánh, biện lý là Duy-ranh-giê đã cùng nhau kết án Nguyễn Hữu Tiến khổ sai chung thân.

Từ nhà tù Sơn La, Nguyễn Hữu Tiến và 150 người tù khác như các đồng chí: Lê Duẩn, Trần Quang Tặng, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Duy Huân, Phạm Văn Tô... bị thực dân Pháp liệt vào hàng nguy hiểm nên bị đày ra Côn Đảo. Tháng 4/1935, Đảng bộ Côn Đảo lại quyết định chọn cử bảy đồng chí vượt biển trở về đất liền hoạt động: Tôn Đức Thắng, Trần Quang Tặng, Tạ Uyên, Phạm Hồng Thám, Nguyễn Văn Cọng, Minh Thẹo và Nguyễn Hữu Tiến.

Sau khi vượt ngục thành công về đất liền, với tên gọi Hai Bắc Kỳ, Nguyễn Hữu Tiến được Xứ ủy Nam Kỳ giao phụ trách liên tỉnh Đảng bộ Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá. Trước ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940) Nguyễn Hữu Tiến đã thửa một lá cờ đỏ, đính ngôi sao vàng năm cánh chính giữa.

Câu chuyện cứ thế trôi đi, không ai ở Lũng Xuyên biết tiếp những việc xảy ra sau đó thế nào. Mãi sau này, nhà văn Sơn Tùng kể rằng, công việc in ấn gần xong thì lính kín ập đến. Không ai trong cơ quan chạy thoát. Người bị bắn, người bị ném xuống biển, người bị tù đày. Ông Hai Bắc Kỳ (Nguyễn Hữu Tiến) bị bắn cùng một lúc với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, ngày 28/8/1941 tại Hóc Môn.

Bức tranh gốc, giờ ở đâu?

Hi sinh năm 1941 nhưng mãi đến năm 2012 hài cốt của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến mới được đưa về Lũng Xuyên. Trong câu chuyện, bà Xu bảo: Bố mẹ tôi kết hôn với nhau và sinh được hai người con. Người anh của tôi là Nguyễn Hữu Bộ mất năm 16 tuổi. Từ lúc đó, tôi và mẹ (cụ Nguyễn Thị Hào) vò võ nuôi nhau. Mẹ tôi mong mỏi nhất là tìm được mộ của bố tôi. Bà cụ đã không thể chờ đợi được giây phút ấy, mẹ tôi mất năm 1995 rồi.
Theo bà Nguyễn Thị Xu, trong năm 1941 chính quyền thực dân Pháp tịch thu ngôi nhà tại Lũng Xuyên mà gia đình đang ở để bán đấu giá. Đến năm 1993, chính quyền tỉnh Hà Nam quyết định xây dựng nhà lưu niệm người vẽ cờ Tổ quốc trên nền đất của ngôi nhà cũ.
Cho đến nay, một trong những kỷ vật quý giá nhất trong ngôi nhà lưu niệm ấy chính là bức tranh do Văn Cao - tác giả Quốc ca vẽ Nguyễn Hữu Tiến. Để mường tượng về khuôn mặt người cha, người ông trong gia đình, bà Xu và con cháu đều dựa vào bức tranh do Văn Cao vẽ.
Tuy nhiên, có một sự thật là bức tranh treo tại nhà lưu niệm lại không phải là bức vẽ của Văn Cao, mà đó là một bức tranh được vẽ lại từ bức tranh gốc. Bức tranh vẽ lại này cũng được in khắc trên bia mộ liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ở nghĩa trang xã Yên Bắc.
Vậy bức tranh gốc do Văn Cao vẽ đang ở đâu? Câu hỏi này, bà Xu, ông Tửu và các con cháu của bà Xu cũng không rõ. Chỉ biết rằng, có họa sĩ ở tỉnh Hà Nam đưa bức tranh đi phục chế, nhưng sau đó chuyển về bức tranh như hiện tại.

Một bức tranh quý, có tính lịch sử, tính liên tài giữa tác giả Quốc ca và tác giả Quốc kỳ không rõ tung tích. Thế nhưng, có sự nể nang hay rắc rối nào đó mà không ai muốn nói lại chuyện này và đành chấp nhận một bức vẽ không còn nguyên bản như đang treo ở nhà lưu niệm?

Năm 1987, khi đình Lũng Xuyên được Nhà nước thưởng kỉ niệm chương, nhạc sĩ Văn Cao và nhà văn Sơn Tùng cùng trong đoàn đã về Lũng Xuyên trao bức tranh chân dung Người vẽ cờ Tổ quốc Nguyễn Hữu Tiến. Nhạc sĩ Văn Cao nói với mọi người: “Tôi không biết chân dung ông Nguyễn Hữu Tiến như thế nào. Tôi cũng chẳng có cơ hội để gặp gỡ hay trò chuyện gì cả. Nhưng nhờ vào lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới giữa làn đạn của kẻ thù mà tôi viết được Quốc ca, thế là tôi tưởng tượng ra chân dung ông Tiến để vẽ và tặng lại cho gia đình”.

(Trần Kiệt báo Giáo Dục và Thời Đại)

NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNHNguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh ra tại Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc ...
04/08/2026

NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH

Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh ra tại Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc Ninh Bình). Ông được xem là một trong những nhà thơ lãng mạn nổi tiếng hàng đầu của Việt Nam, gắn liền với danh xưng "nhà thơ của làng quê Việt Nam" nhờ những sáng tác mang sắc thái dân dã, mộc mạc và đậm đà hồn dân tộc.

Cha của ông làm nghề dạy học, mẹ ông xuất thân từ một gia đình khá giả, bà qua đời đột ngột vì bị rắn độc cắn khi mới 24 tuổi, để lại ba người con trai còn rất nhỏ: Nguyễn Mạnh Phác (tức nhà văn Trúc Đường) mới 6 tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ 3 tuổi và Nguyễn Bính vừa tròn 3 tháng tuổi.

Vài năm sau, cha ông lấy vợ kế và sinh thêm bốn người con. Nhà ngoại ông khá giả nên đón ba anh em ông về nuôi dưỡng và cho ăn học.

Nguyễn Bính bộc lộ tài năng thơ ca từ rất sớm và được cậu Khiêm hết sức khen ngợi, cưng chiều. Năm 13 tuổi, ông đoạt giải nhất cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng. Khi anh trai Trúc Đường đỗ bằng Thành chung loại giỏi ở Hà Nội và về dạy học tại Hà Đông, Nguyễn Bính đã chuyển đến ở cùng anh. Tại đây, ông được Trúc Đường dạy cho Văn học Pháp, từ đó tạo nên sự gắn bó khăng khít giữa hai anh em cả trong đời sống lẫn sự nghiệp văn chương.

Trong khoảng những năm 1932–1933, ông theo bạn lên Đồng Hỷ, Thái Nguyên dạy học, đây cũng là nguồn cảm hứng cho những vần thơ lãng mạn như:

“Cỏ đồi ai nhuộm mà xanh

Áo em ai nhuộm mà anh thấy chàm

Da trời ai nhuộm mà lam

Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai".

Bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính được đăng báo là "Cô hái mơ", nhờ sự giới thiệu của họa sĩ Nguyệt Hồ với chủ bút báo Tiểu thuyết Thứ Năm. Đến năm 1937, tập thơ "Tâm hồn tôi" của ông gửi dự thi và xuất sắc đạt giải khuyến khích của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Từ năm 1940, tên tuổi Nguyễn Bính bắt đầu tỏa sáng rực rỡ với lượng sáng tác dồi dào, đề tài phong phú mà chủ đạo là thơ tình. Cũng trong năm này, khi Trúc Đường chuyển ra Hà Nội, Nguyễn Bính có nguyện vọng vào Huế để tìm đề tài sáng tác. Dù hoàn cảnh khó khăn, Trúc Đường vẫn ủng hộ em bằng cách bán đi dãy thềm đá xanh – vật báu duy nhất của gia đình – cùng một chiếc máy ảnh để lấy tiền đưa cho Nguyễn Bính làm hành trang.

Sống tại Huế, Nguyễn Bính liên tục gửi thơ ra Hà Nội cho anh trai đọc và đăng báo, trong đó có các tác phẩm nổi tiếng như "Xuân tha hương" và "Oan nghiệt". Sau đó, ông trở lại Hà Nội rồi tiếp tục hành trình vào Sài Gòn. Đến năm 1943, ông chia tay Trúc Đường lần cuối cùng trước khi tin tức thưa dần và mất liên lạc hoàn toàn vào năm 1946.

Trong thời gian bôn ba ở miền Nam, ông kết giao và sống cùng nhà các nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang, đồng thời sáng tác những bài thơ vang danh như "Hành Phương Nam", "Tặng Kiên Giang", "Từ Độ Về Đây".

Đây cũng là giai đoạn Thủ tướng chính phủ "Nam Kỳ tự trị" Nguyễn Văn Thinh treo giải thưởng lên tới 1.000 đồng Đông Dương (một số tiền vô cùng lớn thời bấy giờ) cho ai mời hoặc chiêu dụ được Nguyễn Bính vào thành. Dù sống trong cảnh thiếu thốn, lang thang ở Rạch Giá, ngày ăn nhờ bạn bè, đêm ngủ ngoài đình với chiếc bao cói che muỗi, Nguyễn Bính vẫn kiên quyết từ chối. Ông khẳng định chí khí của một sĩ phu yêu nước qua câu thơ:

“Mình không bỏ Sở sang Tề

Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi".

Đến khoảng cuối năm 1947, Nguyễn Bính chính thức gia nhập lực lượng Việt Minh và trở thành chiến sĩ thuộc đội ngũ Vệ quốc đoàn dưới sự tiếp nhận của Bộ Tư lệnh gồm các đồng chí Trần Văn Trà và Nguyễn Văn Vịnh.

Trong thời gian kháng chiến ở Nam Bộ, ông kết hôn với bà Nguyễn Hồng Châu (một cán bộ Việt Minh) do sự mai mối của ông Lê Duẩn và sinh được con gái Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó, ông tiếp tục kết hôn với bà Mai Thị Mới tại U Minh và sinh con gái Nguyễn Hương Mai.

Tên tuổi và uy tín của ông lớn đến mức quân đội Pháp từng dùng máy bay rải truyền đơn dọc kênh Chắc Băng kêu gọi tác giả "Lỡ bước sang ngang" "quay về với chính nghĩa”.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, làm việc tại Nhà xuất bản Văn nghệ rồi đảm nhiệm vai trò chủ bút báo Trăm hoa. Tờ Trăm hoa vốn do Trúc Đường sáng lập từ năm 1955 nhưng phải ngừng hoạt động vì lỗ vốn. Đến cuối năm 1956, Nguyễn Bính tục bản thành Trăm hoa loại mới với mô hình báo tư nhân. Sau giai đoạn làm báo, Nguyễn Bính chuyển về Nam Hà sống những năm tháng cuối đời trong sự giản dị, mộc mạc với áo sơ mi nâu, quần kaki bạc màu và đôi dép cao su.

Trong suốt 30 năm cầm bút, Nguyễn Bính đã cống hiến trọn vẹn cho nghệ thuật với kho tàng tác phẩm đồ sộ thuộc nhiều thể loại như thơ, kịch thơ, truyện thơ và chèo. Các tập thơ tiêu biểu của ông gồm có: "Tâm hồn tôi", "Chân quê", "Lỡ bước sang ngang", "Hương cố nhân", "Một nghìn cửa sổ", "Mười hai bến nước", "Mây tần", "Đồng Tháp Mười", "Nước giếng thơi", "Đêm sao sáng", cùng các tác phẩm kịch thơ, chèo như "Bóng giai nhân", "Truyện Tỳ Bà", "Cô Son", "Người lái đò sông Vỹ".

Rất nhiều bài thơ của ông đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho âm nhạc và được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ thành những ca khúc sống mãi với thời gian, tiêu biểu như: "Cô hái mơ" (Phạm Duy), "Chân quê" (Trung Đức / Song Ngọc), "Cô lái đò" (Nguyễn Đình Phúc), "Gái xuân" (Từ Vũ), "Ghen" (Trọng Khương), "Mưa xuân" (Huy Thục), "Thoi tơ" (Đức Quỳnh), "Trăng sáng vườn chè" (Văn Phụng) hay "Tiểu đoàn 307" (Nguyễn Hữu Trí).

Di sản văn học của Nguyễn Bính được chia thành hai dòng chính là thơ lãng mạn và thơ cách mạng. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất giúp ông chiếm trọn tình cảm của nhiều thế hệ độc giả chính là mảng thơ lãng mạn về làng quê Việt Nam. Trong khi hầu hết các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào Thơ mới và văn học phương Tây, Nguyễn Bính lại chọn con đường riêng: gắn bó, hấp thụ trọn vẹn tinh hoa của ca dao, dân ca và truyện thơ dân gian. Thơ ông đằm thắm, dung dị, sử dụng thể thơ lục bát vô cùng nhuần nhuyễn với những hình ảnh hàng cau, giàn trầu, rặng mùng tơi, thôn Đoài, thôn Đông... đã trở thành biểu tượng cho tâm hồn, bản sắc và tiếng nói chân thành của người dân Việt Nam.

———

Tương Tư

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?





Cre : Cội nguồn lịch sử và văn hóa

Văn Cao, trong nghệ thuậtHồi ký Phạm Duy nói rằng khi Phạm Duy theo đuổi con đường phát triển dân ca thì Văn Cao lại khu...
03/08/2026

Văn Cao, trong nghệ thuật

Hồi ký Phạm Duy nói rằng khi Phạm Duy theo đuổi con đường phát triển dân ca thì Văn Cao lại khuyên Phạm Duy tìm lối khác mà đi. Ông Văn nói: "Mày làm dân ca làm gì, dân ca Việt Nam nghèo nàn lắm, có gì đâu". (Phạm Duy nhắc lại nhiều lần, với thái độ vừa tôn trọng vừa trầm trồ, không hề có ý mỉa mai hay đả kích ông Văn).

Từ thông tin này, có lẽ nhiều người sẽ nói rằng ông Văn không Việt, ông Văn lai căng, hay gì đó. Nhưng hãy nghe bài hát duy nhất của ông được lọt vào một bảng xếp hạng quốc tế uy tín, bài Làng tôi. Nó là điệu valse, là nhịp 3/4, là nhịp lẻ. Tây quá đúng không? Nhưng ô kìa, sao nó lại có "hương vị" lục bát nhỉ? Lục với cả Bát thì đều là chẵn. Câu hát của ông, nhịp 3/4, thò ra thụt vào thế nào mà lại có hơi lục bát, là cái tài của ông, là cái Việt của ông. Mà không chỉ có thế. Tôi đố ai tìm thấy một bản thu nào mà ca sĩ hát bài này đúng hơi thở của valse, tinh thần của valse đấy! Mức độ nhấn nhá của nó "trùng trình" hơn, không dứt khoát như valse "xịn". Tôi đã hỏi mấy ông nhạc sĩ tây rồi, họ nói nhìn qua là biết bài này không hát dứt khoát nhịp điệu được. Và có lẽ chính vì cái kiểu "valse Việt hóa" đó, mà bài của ông được vinh danh trên quê hương của valse.

Nói đến ông Văn, không chỉ nhạc, mà họa cũng lạ. Hãy xem tranh ông vẽ ông chủ quán cafe Lâm phố Nguyễn Hữu Huân. Những mảng màu mênh mông, những góc nhọn, nó rất cấp tiến, nó chẳng chân phương. Nó tây. Nhưng mà màu sắc thì không tây. Màu tím, màu vàng của ông Văn, không hề tồn tại trong bảng màu hội họa phương tây. Tôi khẳng định hàng trăm năm nữa, nhìn bức tranh đó, vẫn ra sắc màu của người Việt.

Nói đến Văn Cao, là nói đến những gì độc nhất vô nhị. " Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc" là bài thơ độc nhất giai đoạn 30-45 viết theo phong cách hiện thực. Và dù công chúng khi đó ngầm mặc định lãng mạn là để cho thơ, còn hiện thực là để cho văn xuôi, thì giới phê bình lại luôn công nhận bài đó của Văn Cao, dù khác đời, nhưng hay không kém bất kỳ bài thơ mới nào. Làng tôi là bài hát duy nhất của VN trong hàng chục năm trời lọt một bảng xếp hạng quốc tế. Và những câu hát trong trường ca Sông Lô, thì như Phạm Duy công nhận, là những câu hát trường hơi nhất, trường cảm xúc nhất của nền âm nhạc VN. Tiến quân ca thì ai cũng biết rồi, hay đến nỗi không thể thay thế.

Nói chung, Văn Cao rất lạ. Ông luôn có ý thức phải đi riêng, phải khác biệt. Ý thức đó cùng với tài năng hiếm có, tạo ra đẳng cấp Văn Cao, nghệ thuật Văn Cao. Nhưng chẳng phải trong nghệ thuật, mà trong cuộc sống, ông cũng lạ. Ông chơi với ông Tô Hoài, Nguyễn Tuân, mà những câu ông nói ra, hai ông kia có hiểu mấy đâu. Cho nên trong "Cát bụi chân ai", Tô Hoài bảo Văn Cao nói như sấm truyền. Có lẽ, với ông, ngay cả lời nói ra cũng phải độc đáo, phải "khác". Và ông cũng rât "sang". Ông Tuân, ông Hoài thường gọi ông Văn là "Hoàng thượng", còn ông Trịnh Công Sơn làm hẳn một bài viết "Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng". "Sang trọng" và "Khác biệt", có thể nói hành trình nghệ thuật của Văn Cao luôn hiện diện 2 tính từ đó.

Trải qua nhiều địa hạt của nghệ thuật, ông Văn đều có tác phẩm để đời. Chúng chiếm lĩnh những vị trí rất cao và rất riêng, không chung đụng đường đi lối về với ai. Có thể nói, trong nghệ thuật, Văn Cao là một ngọn núi cô đơn.

(Đây không phải là mấy dòng viết khơi khơi, mà là bài tranh luận của tôi với bố tôi 28 năm về trước. Hôm nay, nhân có chương trình nghệ thuật về các nhạc sĩ tiền chiến, tôi nhớ lại, biên ra, có bổ sung đôi chút, trước hết là để tôi khỏi quên mất. Thời gian lâu quá rồi, mà trí nhớ ngày càng kém)

CHIẾC XE XÁC QUA PHƯỜNG DẠ LẠC

Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa
Chập chờn ảo hoá tà ma...
Đôi giẫy hồng lâu cửa mở phấn sa
Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục
Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục;
Tình tang não nuột khóc đàn sương
Áo thế-hoa rũ rượi lượn đêm trường
Từng mỹ-thể rạc hơi đèn phù thế.
Ta đi giữa đường dương thế
Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây...
Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy
Xác truỵ lạc rũ bên thềm lá phủ
Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ
Thanh xuân hờ Thanh xuân!
Bước gần ta chút nữa thêm gần
- Khoảng giữa tuổi xương, nghe loạn trùng hút tuỷ
Ai huỷ đời trai trên tang trống nhỉ?
Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya!
Đảo điên... mê say... Thể phách chia lìa
Nghe reo mạnh, chuỗi tiền cười lạnh lẽo!
Tiền rơi! Tiền rơi! Chùm sao huyền diệu
Lấp lánh hằng hà gạo rơi! Tiền rơi!
- Vàng mấy lá thừa đãi thây phủ chiếu

II
Ngã tư nghiêng nghiêng chia nẻo
Dặt dìu cung bậc Âm Dương
Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch
Đầm đìa rả rích Phương Đông
Mang mang thở dài hồn đất trích
Lưỡi thép trùng trùng khép cố đô
Cửa ô đau khổ
Bốn ngả âm u
(Nhà ta thuê mái gục tự mùa thu
Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc)
Đêm đêm, đài canh tan tác
Bốn vực nhạc động, vẫy người
Giẫy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời
Ta về gác, gió gài then, cửa rú
Trên đường tối đêm khoả thân khiêu vũ
Kèn nhịp xa điệu múa Vô Luân;
Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm
Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc
Kiếp người tang tóc
Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương:
Một nửa kêu than, ma đói sa trường
Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc

III
Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác
Đi vào ngõ khói Công yên
Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền
Hương nha phiến chập chùng mộng ảo
Bánh nghiến nhựa đường kêu sào sạo
- Ai vạc xương, đổ sọ xuống lòng xe?
Chiếc Quỷ xa qua bốn ngả ê chề
Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực
Mưa, mưa hằng thao thức
Trong phố lội đìu hiu
Mưa, mưa tràn trên vực
- Hang tối gục tiêu điều!
Mang linh hồn cô liêu
Tiếng xe càng ám ảnh
Tiếng xe dần xa lánh
Khi gà đầu Ô kêu

VĂN CAO
Tháng Ba dương lịch năm 1945

Ở trên là bài thơ theo bản in trên tạp chí Tiên phong (1946) với tiêu đề Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc. Một số bản in sau này ghi tiêu đề là Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc.

nguồn: Facebook Hoàng Phương

Address

28 Lê Văn Lương
Hanoi
10000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn Cao còn mãi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Establishment

Send a message to Văn Cao còn mãi:

Shortcuts

Share

Category