Văn Cao còn mãi

Văn Cao còn mãi Văn Cao còn là một họa sĩ, nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị. Sau vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm, Văn Cao phải đi học tập chính trị.
(4)

Văn Cao tên khai sinh là Nguyễn Văn Cao(15 tháng 11 năm 1923 – 10 tháng 7 năm 1995) là một nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, chiến sĩ biệt động ái quốc người Việt Nam. Ông là tác giả của ca khúc Tiến quân ca, quốc ca chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà. Văn Cao (15 tháng 11, 1923 – 10 tháng 7, 1995) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của "Tiến quân ca", quốc ca của Việt Nam, đồng

thời cũng là một trong những gương mặt quan trọng nhất của tân nhạc. Thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong, Văn Cao tham gia nhóm Đồng Vọng, sáng tác các ca khúc lãng mạn "Bến xuân", "Suối mơ", "Thiên Thai", "Trương Chi",... ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. Sau khi gia nhập Việt Minh, Văn Cao viết "Tiến quân ca", "Trường ca Sông Lô", "Tiến về Hà Nội",... trở thành nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến. Trừ "Tiến quân ca", ca khúc của ông cũng giống như các nhạc phẩm tiền chiến khác, không được lưu hành ở miền Bắc. [cần dẫn nguồn] Đến cuối thập niên 1980, những nhạc phẩm này mới được biểu diễn trở lại. Năm 1996, một năm sau khi mất, Văn Cao được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt trao giải đầu tiên. Ông cũng đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Độc lập hạng nhất

Tên ông cũng được đặt cho nhiều con phố đẹp ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Nam Định.

THANH THẢO, NHÀ THƠ TRƯỜNG CA CỦA TƯ TƯỞNG VÀ CÁI ĐẸPNhân dịp đề thi môn ngữ văn vào lớp 10 nói về bài thơ "Trăng trong ...
11/06/2026

THANH THẢO, NHÀ THƠ TRƯỜNG CA CỦA TƯ TƯỞNG VÀ CÁI ĐẸP

Nhân dịp đề thi môn ngữ văn vào lớp 10 nói về bài thơ "Trăng trong rừng và những đứa trẻ" của nhà thơ Thanh Thảo.

(Giống như Trịnh Công Sơn nhà thơ Thanh Thảo thuộc thế hệ con em so với Văn Cao. Tuy nhiên Văn Cao luôn coi Thanh Thảo là một trong những người đàn em yêu quý nhất của ông. Thời nhạc sĩ Văn Cao còn sống, Thanh Thảo là người hay đến thăm và mang rượu đến để đàm đạo về văn thơ với ông. Văn Cao quý nhà thơ đến mức sau này ông đã đặt tên Thanh Thảo cho cô cháu gái của ông)

Nhà thơ Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê Quảng Ngãi, sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội năm 1969, ông vào công tác ở chiến trường miền Nam với tư cách là người lính và nhà báo. Ông được trao nhiều giải thưởng văn học giá trị của Hội Nhà văn VN và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (VHNT) đợt 1 năm 2001. Ông từng là Phó tổng thư ký Hội Văn nghệ Quảng Ngãi rồi Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Quảng Ngãi.

Trong trường ca Những người đi tới biển, một câu thơ nổi tiếng của Thanh Thảo viết về người lính đã "nằm lòng" mấy thế hệ trận mạc như một câu hỏi lớn: "Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?/ Cỏ sắc mà ấm quá, phải không em"...

Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh và trưởng thành cùng thời đại. Tuy nhiên, khác với nhiều cây bút thiên về cảm xúc sử thi hay chất anh hùng ca, Thanh Thảo chọn cho mình lối đi riêng, đó là thơ tư duy, thơ phản tỉnh và thơ khám phá chiều sâu nhân tính. Ông không chỉ là một thi sĩ ghi lại chiến tranh, mà là người suy tư về chiến tranh, con người và vận mệnh dân tộc, với một bút pháp độc đáo, nhiều liên tưởng, tượng trưng, siêu thực và triết lý.

Những đặc điểm nổi bật trong thơ Thanh Thảo chính là hành trình thơ của tư duy, không chỉ cảm xúc mà còn là suy nghiệm. Trong các tập như Những người đi tới biển hay Dấu chân qua trảng cỏ, Thanh Thảo viết về chiến tranh, nhưng đi sâu vào cảm thức nhân sinh, vào nỗi đau, sự hy sinh và thân phận con người.

"Lặng im như đá mồ côi/ họ dạy anh tình yêu/ không lời/ anh yêu biển mà đứng trên bờ/ anh yêu nước mà không biết bơi/ làm sao anh hiểu?/ có những người lính đảo/ trần lưng trước mưa đạn quân thù". Câu thơ như một câu hỏi lớn xoáy vào tâm can những người đang sống với chính sự chiêm nghiệm về những mất mát, hy sinh mà người lính phải trải qua. Tư duy thơ của Thanh Thảo luôn mang tính hai chiều: vừa hướng về lý tưởng, vừa không quên cái thực và những nỗi buồn lặng lẽ phía sau vầng trán thời đại. Ngôn ngữ thơ của ông giàu hình ảnh liên tưởng, ẩn dụ và giàu nhạc tính. Thanh Thảo nổi bật với ngôn ngữ giàu chất nhạc và tượng trưng. Ông sử dụng nhiều cấu trúc câu phá cách, những cụm từ gợi mở, tạo nên một giọng thơ độc đáo, như trong trường ca Chân đất:

"Đá cõng đá cõng đá/ mồ hôi cõng mồ hôi/ tháng năm cõng tháng năm/ người cõng người/ xây nên Trường Lũy/ cùng mọi người tôi vác đá xây lũy/ cùng mọi người tôi vác tự do vác tình anh em qua lũy/ cùng mọi người tôi ném những trái ngang khỏi lũy/ chúng tôi không xây Vạn Lý Trường Thành/ chúng tôi đếch cần hảo hán/ chúng tôi tươi vui bình thản/ dù chân lũy tới chân trời/ xa lắc chơi vơi".

Hình ảnh trong thơ là những biểu tượng đầy ám ảnh về dải đất Trường Lũy và con người ở quê hương Thanh Thảo trước lịch sử và số phận là chất thơ riêng của ông với sự giản dị nhưng hàm chứa chiều sâu triết lý. Trong thơ ông, chất triết lý hiện sinh song hành cùng sự cách tân không ngừng.

LÀM MỚI CÁCH NHÌN VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG THI CA
Những năm sau chiến tranh, một Thanh Thảo với những tìm tòi mới trong thơ lại bắt đầu khuấy động thi đàn. Có người đánh giá cao những đóng góp của ông trong mảng thơ viết về chiến tranh; cũng có người cho rằng mảng thơ sau chiến tranh của ông với những nỗi đau đời sống thường ngày, với những trăn trở cách tân cho thấy một diện mạo sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về thơ Thanh Thảo. Tôi thì cho rằng ở giai đoạn nào cũng vậy, Thanh Thảo vẫn là một tài năng thơ đích thực với trái tim luôn nồng nhiệt, chân thành, chia sẻ với mọi mất mát và bất bình trước mọi giả trá, bất công và bạo lực.

Trường ca của ông như bản giao hưởng đa thanh nhiều giọng nói, nhiều trường nghĩa. Những đoạn trường ca của ông như cuộc "hội thoại" giữa con người với thời đại và thân phận. Trong trường ca Khối vuông Rubik, ông tạo ra một cấu trúc như khối rubik xoay đa chiều, chứa đựng những mảnh ghép cuộc đời, nghệ thuật, chiến tranh và cả siêu hình học. Đây chính là một bước đẩy trường ca vào không gian nghệ thuật đa chiều, đa nghĩa.

Ông là người tiên phong phá bỏ ranh giới giữa thơ và văn xuôi, giữa thơ trữ tình và triết lý, giữa ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học. Trường ca của ông là sự hòa trộn giữa tự sự trữ tình với triết lý, giữa biểu cảm và liên tưởng với cách kết cấu phi tuyến tính rồi cắt khúc và giao thoa đa tầng. Đây chính là mô hình "trường ca hậu hiện đại" ở VN giai đoạn sau chiến tranh.

Thanh Thảo không chỉ làm mới thơ Việt qua hình thức trường ca, mà còn làm mới cách nhìn về con người, lịch sử và thi ca. Ông biến trường ca vốn là một thể thơ "nặng" trở thành dòng chảy nghệ thuật đa tầng, vừa lắng sâu vừa rộng mở, mang dấu ấn của thời đại và của một tâm hồn không ngừng suy tưởng. Bài học lớn nhất từ Thanh Thảo là thơ phải có tư duy, phải dám làm khác, dám đối diện với bóng tối của chính mình, để từ đó vươn tới ánh sáng của cái đẹp.

Với 15 trường ca và hàng chục tập thơ, bút ký, tiểu luận văn học đã in trong nửa thế kỷ qua, nhà thơ Thanh Thảo được bạn bè văn chương đặt cho nghệ danh là "ông vua trường ca" của thi ca đương đại VN. Nhưng có một điều khá hay, Thanh Thảo vẫn là một nhà thơ lớn của những bài thơ nhỏ rất đặc sắc, hiện đại và đáng chú ý.
(theo Việt Nguyễn báo Thanh Niên)

10/06/2026

NGÀY MÙA - VĂN CAO - BỨC TRANH TUYỆT ĐẸP VỀ TÌNH QUÂN DÂN TRONG KHÁNG CHIẾN

Nói đến Văn Cao, nói đến âm nhạc kháng chiến chống thực dân Pháp, đến những tác phẩm viết về nông thôn, không thể không nhắc đến bài hát “Ngày mùa”. Nếu “Làng Tôi” được Văn Cao sáng tác năm 1947 thì “Ngày mùa” được ông sáng tác một năm sau đó năm 1948. Cùng với “Làng tôi” tác phẩm này đã trở thành một trong những bài hát hay nhất trong số những bài hát viết về nông thôn Việt Nam.

Nhìn vào thời gian, hoàn cảnh ra đời và nội dung của 2 bài hát này , chúng ta có thể thấy được “Ngày mùa” chính là câu chuyện tiếp nối của bài hát “Làng tôi”.

Tháng 10-1947, với tư cách là một chiến sĩ văn hóa cách mạng, Văn Cao được cử lên Việt Bắc tham gia kháng chiến. Ông đi qua Phú Thọ, men theo dọc bờ sông Lô để tìm đường lên Chiến khu Việt Bắc.

Dặm dài gian nan ấy, Văn Cao được nghe về: chiến thắng oai hùng của bộ đội pháo binh trong trận đánh Đoan Hùng trên sông Lô, tận mắt chứng kiến cảnh xóm làng trơ trụi, xác giặc trôi đầy sông và không khí hồi hởi của nhân dân ở đôi bờ dòng sông Lô, thấy được cảnh oai hùng của đoàn quân chinh chiến thắng trận trên đường về chiến khu, bên cạnh là cảnh hùng vĩ của dòng sông Lô đang chảy về xuôi. Sau đó ông đã viết ca khúc “Trường Ca sông Lô”, một trong những tác phẩm vĩ đại nhất trong sự nghiệp của ông.

Cũng trên con đường này , Văn Cao còn chứng kiến cảnh người dân nô nức trở về làng quê xây dựng lại xóm làng . Những người chiến sĩ , dân quân du kích vừa đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi mảnh đất quê hương nay lại chung tay cùng người dân xây dựng lại nhà cửa, làng mạc. Họ vừa tham gia sản xuất , thu hoạch mùa màng, vừa bảo vệ đồng ruộng, đất đai khỏi sự xâm lược trở lại của giặc.”

Tất cả những khung cảnh ấy sẽ là đối tượng khách quan, thông qua cảm xúc và tư duy sáng tạo, được nhạc sĩ Văn Cao đưa vào ca khúc “ Ngày mùa”, một bức tranh tuyệt đẹp về nông thôn trong kháng chiến nhưng ở vùng tự do. Những người dân quê vui vẻ, lạc quan thanh thản gắn bó với ruộng đồng, làm ra những mùa vàng để phục vụ kháng chiến.

Cũng giống như “ Làng Tôi” , “Ngày mùa” cũng được Văn Cao sử dụng với nhịp Valse để vẽ lên một bức tranh âm thanh về một ngày mùa thời kháng chiến vừa lãng mạn , trữ tình lại vừa gần gũi , bình dị . Nghe “ Ngày mùa” chúng ta dễ dàng hình dung ra một bức tranh tuyệt đẹp với màu sắc óng ả của một làng quê Việt Nam đang vào mùa gặt lúa.

"Làng tôi" và "Ngày mùa" đã được nhiều người yêu thích và bình chọn vào 20 bài hát hay nhất viết về nông thôn Việt Nam trong cuộc bình chọn do Bộ NN&PTNT khởi xướng nhân kỷ niệm 65 năm thành lập Bộ Canh Nông. “Ngày mùa”, “Làng tôi” mang màu sắc chiến tranh nhưng cũng mang đậm màu sắc trữ tình và khát khao hoà bình, tình yêu cuộc sống của mọi người. Giai điệu đẹp đến nỗi mỗi khi cất lên, người ta biết ngay là nét nhạc của Văn Cao khắc họa làng quê Việt Nam thời bấy giờ.

NAM CAO Ngày 30/11/1951, nhà văn Nam Cao hy sinh tại Ninh Bình khi đang làm nhiệm vụ trong vùng địch hậu.Ông không mất t...
09/06/2026

NAM CAO

Ngày 30/11/1951, nhà văn Nam Cao hy sinh tại Ninh Bình khi đang làm nhiệm vụ trong vùng địch hậu.
Ông không mất trên bàn viết.
Ông cũng không ra đi trong một căn phòng yên tĩnh giữa những trang bản thảo còn dang dở.
Nam Cao ngã xuống trên đường công tác giữa những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tên thật của ông là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1915 tại làng Đại Hoàng (nay thuộc tỉnh Ninh Bình).
Trước khi trở thành liệt sĩ, ông đã là một trong những cây bút lớn nhất của nền văn học Việt Nam với những tác phẩm bất hủ như:
Chí Phèo
Lão Hạc
Đời thừa
Sống mòn
Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám, Nam Cao không chỉ cầm bút.
Ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc, làm báo, tuyên truyền và trực tiếp phục vụ kháng chiến.
Cuối tháng 11/1951, Nam Cao cùng một đoàn cán bộ được giao nhiệm vụ vào vùng địch hậu ở Ninh Bình.
Trên đường làm nhiệm vụ, đoàn công tác rơi vào một cuộc phục kích của quân Pháp.
Nhà văn Nam Cao đã hy sinh tại Hoàng Đan, Gia Viễn, Ninh Bình khi mới 36 tuổi. Nhiều tài liệu ghi lại rằng ông ra đi giữa lúc tài năng đang ở độ chín nhất của cuộc đời. Những dự định văn chương lớn vẫn còn dang dở, những trang bản thảo cuối cùng vẫn chưa kịp hoàn thành.
Có lẽ đó là điều khiến sự ra đi của Nam Cao trở nên đặc biệt đau xót.
Người đã viết nên Chí Phèo, Lão Hạc và biết bao số phận khốn khổ của người dân Việt Nam cuối cùng lại ngã xuống không phải trong thư phòng, mà giữa chiến khu, trên con đường làm nhiệm vụ cho đất nước.
Nam Cao (1915–1951)
Ông sống 36 năm.
Nhưng những gì để lại cho văn học Việt Nam đã vượt xa tuổi đời ngắn ngủi ấy.
Có những nhà văn được nhớ bởi tác phẩm.
Nam Cao được nhớ bởi cả tác phẩm và sự hy sinh của mình.

Cuốn sách "Người Hà Nội thanh lịch" Vẽ bìa sách: Văn Cao Minh họa: Bùi Xuân Phái(nguồn ảnh: Vũ Ngọc Linh Nơi góc phố - H...
08/06/2026

Cuốn sách "Người Hà Nội thanh lịch"
Vẽ bìa sách: Văn Cao
Minh họa: Bùi Xuân Phái

(nguồn ảnh: Vũ Ngọc Linh
Nơi góc phố - Hà Nội ngày tháng cũ)

07/06/2026

BÓNG HÌNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA VĂN CAO.

06/06/2026

BẾN XUÂN - MỐI TÌNH ĐẦU TRONG SÁNG NHƯNG DANG DỞ CỦA VĂN CAO - HÉ LỘ THÂN PHẬN NGƯỜI CON GÁI TRONG TÁC PHẨM

Nếu chỉ với sáng tác đầu tay Buồn tàn thu năm 16 tuổi, Văn Cao đã vẽ nên cả một mùa thu Bắc Việt với những rung cảm tuyệt mỹ, trở thành đỉnh cao của âm nhạc lãng mạn, đến mức tưởng như mùa thu trở thành dấu ấn và số mệnh của người nhạc sĩ tài hoa thì chỉ ba năm sau đó, ông tiếp tục có một Bến xuân cũng lộng lẫy không kém. Với một không gian mùa xuân nhuốm màu thần tiên, ẩn chứa trong đó là một khối tình thăm thẳm, ca khúc trở thành tuyệt phẩm kinh điển của tân nhạc, như nhạc sĩ Phạm Duy nhận định: “là cực điểm của lãng mạn tính trong ca nhạc Việt Nam”.

Chuyện tình nàng thiếu nữ tên “Oanh”

Suốt cuộc đời, Văn Cao sống khiêm nhường, khép kín. Đặc biệt trong chuyện tình cảm, ông chung thủy và chừng mực, hết lòng với vợ con. Vì thế, trong các tác phẩm của Văn Cao, những câu chuyện về tình yêu nam nữ cá nhân không nhiều mà phần lớn là những buồn vui chung về nhân tình thế thái, thể hiện qua những cảm nhận và miêu tả vô cùng tinh tế về cảnh vật và con người.

Bến xuân là trường hợp đặc biệt mà Văn Cao viết về một mối tình có thực trong cuộc đời mình. Mối tình không thành nhưng khiến nhạc sĩ có những rung cảm mạnh mẽ. Đó là câu chuyện về giai nhân Hoàng Oanh, người Hải Phòng. Những năm 1940, cô tiểu thư Hoàng Oanh con nhà giàu, xinh đẹp nức tiếng, có giọng hát “oanh vàng” khiến biết bao chàng trai ôm mộng tương tư.

Trong đó, nổi tiếng nhất phải kể đến nhóm nhạc sĩ hàng đầu của thành phố cảng thời đó: Hoàng Quý, Kim Tiêu và Văn Cao. Trớ trêu thay, cả ba người đều là những tri kỷ thân thiết trong nghệ thuật. Vốn tính rụt rè, lại có phần mặc cảm về gia cảnh, Văn Cao đành lùi về phía sau, thậm chí giúp hai người bạn viết thơ, viết nhạc để lấy lòng giai nhân.
Chính Văn Cao từng thú nhận: “Tôi là người luôn luôn thất bại về tình yêu, cái thất bại này là bởi vì tôi không giỏi về cách giao lưu với những người đàn bà. Đối với những người đẹp, tôi lại càng bối rối. Tôi không bao giờ nói được với người ta, thì tôi bèn nói trong thơ”.

Dù Văn Cao chưa một lần ngỏ lời, có lẽ Hoàng Oanh cũng cảm nhận được đôi phần tâm tư của ông. Trong thời gian Văn Cao sống tại Bến Ngự, Hải Phòng (còn gọi là Bến Đò Rừng, điểm giao nhau giữa phố Hoàng Văn Thụ và Bưu điện Hải Phòng, nơi nhạc sĩ Văn Cao sinh ra và lớn lên), có một dịp Hoàng Oanh ghé thăm nhạc sĩ, nàng còn ngồi làm mẫu cho Văn Cao vẽ chân dung và ngồi quạt cho chàng viết nhạc.

Những rung cảm mạnh mẽ từ cuộc gặp gỡ ấy đã chắp cánh cho Văn Cao viết nên tuyệt phẩm Bến xuân. Dù sau này, mối tình ấy mãi mãi đi vào quá khứ, khi Hoàng Oanh quyết định lên xe hoa với nhạc sĩ Hoàng Quý (sau này, bà cũng là nhân vật chính để Hoàng Quý viết nên ca khúc nổi tiếng Cô láng giềng), nhưng với Văn Cao, đó là một kỷ niệm vô cùng đẹp đẽ. Thế nên dù là tình yêu vô vọng, Bến xuân mang đầy niềm hạnh phúc dâng tràn, một niềm vui trong sáng như mùa xuân ùa về trong tâm tưởng của người nghệ sĩ. Nhạc sĩ còn khéo léo lồng ghép câu nhạc: “Ai tha hương nghe ríu rít Oanh ca” như ngầm gửi gắm tình cảm cho người con gái tên Oanh.

Sau này, trong phim ca nhạc Văn Cao, giấc mơ một đời người của đạo diễn Đinh Anh Dũng (năm 1995), Văn Cao có nói lại về Bến xuân và cuộc gặp gỡ ngày ấy: “Ngày xưa, tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Thế nhưng, người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi, vì thế mới có câu hát “Em đến tôi một lần” và có bài hát này”.

Bến xuân ra đời năm 1942. Khi xuất bản lần đầu, trong bản nhạc có đề tên nhạc sĩ Phạm Duy là đồng tác giả phần lời. Việc này cũng gây ra nhiều tranh luận trong giới nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu. Vì theo hồi ký của Phạm Duy, cũng như theo lời nhạc sĩ Văn Thao (con trai nhạc sĩ Văn Cao), nhạc sĩ Phạm Duy xuống Hải Phòng và hội ngộ Văn Cao lần đầu quãng năm 1943, 1944 trong khi Bến xuân được viết năm 1942, nên việc Phạm Duy tham gia viết lời cho Bến xuân là phi lý. Tuy nhiên, điều này chưa một lần được cả hai nhạc sĩ lên tiếng vì có lẽ Văn Cao hiểu rõ nhất sự hiện diện của Phạm Duy trong những sáng tác của mình. Với Phạm Duy, mọi hư danh, nhất là với người bạn ông coi như tri kỷ, như tiền bối, dường như đều vô nghĩa.

Năm 1944, khi Văn Cao tham gia Việt Minh, dựa trên phần nhạc cũ, ông đã viết lại phần lời mới cho ca khúc với tên gọi Đàn chim Việt. Ca khúc vượt ra khỏi câu chuyện tình cảm đôi lứa cá nhân mà mang khát vọng hòa hợp dân tộc. Đàn Chim Việt cũng lan tỏa mạnh mẽ và có sức sống riêng không thua kém Bến xuân.

Được coi như thế hệ thứ hai của tân nhạc Việt Nam, hồn nghệ thuật của Văn Cao là sự hội tụ và phát tiết đến đỉnh điểm của sự lãng mạn và tinh tế, ảnh hưởng từ văn hóa Pháp và của thế hệ nhạc sĩ đi trước như Lê Thương, Đặng Thế Phong, Lưu Hữu Phước…

Ở Văn Cao có sự kết hợp tài tình của nhạc ngữ phương Tây giai đoạn đầu với âm hưởng và màu sắc cổ nhạc dân tộc. Trong các giai đoạn đầu của tân nhạc, với những bản tình ca mùi mẫn, dù vẫn sử dụng những nốt luyến láy và kỹ thuật nhảy nốt mang âm hưởng của ca trù hay âm nhạc ngũ cung, Văn Cao cũng khéo léo thoát ra khỏi hình thái cũ của cổ nhạc, vận dụng sáng tạo và duyên dáng các cấu trúc ca khúc của phương Tây như hợp âm vòng, cấu trúc ba đoạn… tạo nên những tác phẩm sang trọng và diễm lệ bất chấp mọi thời đại, khiến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng phải nghiêng mình kính phục: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn Cao là âm nhạc của thần tiên bay bổng...”.

Tính lãng mạn trong âm nhạc của Văn Cao như khởi thủy của những bản nhạc chữa lành tâm hồn, với giai điệu uyển chuyển du dương. Toàn tài ở cả ba lĩnh vực âm nhạc - hội họa - thơ ca, các ca khúc của Văn Cao luôn hiện lên như một bức tranh tuyệt mỹ. Đó là cái đẹp vượt lên trên cả khổ đau của nhân gian, dù nói về nỗi buồn cũng không chút oán hận hay tuyệt vọng.

Như Phạm Duy từng nói: “Nhạc sầu của nhiều tác giả khác, nhiều khi chỉ là sầu giả tạo; còn tình ca của Văn Cao, nếu là tình buồn cũng không bao giờ bi lụy”. Điều này không chỉ thể hiện ở Bến xuân mà xuyên suốt con đường âm nhạc của Văn Cao. Ông luôn dành cho tác phẩm của mình cái nhìn bao dung và say sưa với cuộc đời, dù đó là một cuộc đời không bằng phẳng. Đó là tầm vóc của một nghệ sĩ lớn, một nhân cách lương thiện mà nhiều thế hệ nghệ sĩ sau này phải học hỏi và ngưỡng mộ.

Trong cuốn Tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu, Phạm Duy viết: “Nói tới nhạc tình, Văn Cao là nhất!” và “nếu đem so sánh với những bản nhạc tình của 50 năm tân nhạc thì những bài Suối mơ, Bến xuân… là cực điểm của lãng mạn tính trong ca nhạc Việt Nam. Sẽ không bao giờ có những bài ca lãng mạn như thế nữa”.

Dù sau này Văn Cao thành công lẫy lừng ở nhiều thể loại nhạc khác nhau như trường ca hay nhạc cách mạng… nhưng với nhạc tình lãng mạn, Văn Cao vẫn là dấu son chói lọi, giúp định hình một giai đoạn sơ khai của tân nhạc Việt Nam đạt đến cực điểm của trữ tình duy mỹ. Văn Cao như một cây đại thụ khiêm nhường nhưng tỏa bóng mát sâu rộng, đầy ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nghệ sĩ sau này.

TỪ “CHUYỆN VỚI THANH” NHỚ VỀ “BÚP SEN XANH”nguồn Facebook Đặng Chương NgạnTôi chưa đọc Chuyện với Thanh.Tôi chỉ đọc một ...
06/06/2026

TỪ “CHUYỆN VỚI THANH” NHỚ VỀ “BÚP SEN XANH”
nguồn Facebook Đặng Chương Ngạn

Tôi chưa đọc Chuyện với Thanh.
Tôi chỉ đọc một số bài viết trên Facebook về cuốn sách này.
Tôi tin tác giả Nguyễn Thành Nam, một người đã được đào tạo ở Liên Xô, xuất thân từ một gia đình cách mạng, hiện đang đứng lớp giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Đại học VinUniversity, luôn có tư tưởng chính trị theo chính thống. Điều gây nên sự phản đối từ các bạn yêu lãnh tụ có lẽ do ngôn ngữ sử dụng trong cuốn sách - một thứ ngôn ngữ Gen Z chăng? Hay nội dung tác phẩm có sai khác với dữ liệu lịch sử đã công bố?
***
Nhưng dư luận ồn ào làm tôi nhớ đến cuốn tiểu thuyết BÚP SEN XANH của nhà văn Sơn Tùng - một thương binh chống Pháp, chống Mỹ. Không những thế, gia đình Sơn Tùng có quan hệ họ hàng với Hồ Chí Minh. Bà nội Sơn Tùng, cụ Hà Thị Tự, là cháu họ bà nội Hồ Chí Minh, cụ Hà Thị Hy; và em trai ông nội của Sơn Tùng đỗ tú tài cùng khoa với em trai ông ngoại của Hồ Chí Minh...

Dù vậy, khi Búp sen xanh phát hành vào năm 1982, cuốn tiểu thuyết đã bị phê phán nặng nề. Những bài viết (in trên báo chứ không phải là tut facebook) trong giai đoạn 1982–1983 đều do các nhóm phóng viên, Ban Biên tập các tờ báo lớn đứng tên. Bài viết “Vài ý kiến về Búp sen xanh” được đăng chiếm 1/2 trang khổ lớn của một tờ báo.

Nhiều chi tiết, nội dung trong tiểu thuyết Búp sen xanh bị phê phán, nhưng căng nhất là nhân vật Út Huệ, tức Lê Thị Huệ, một cô gái có tình cảm với Nguyễn Tất Thành. Cô Út Huệ kém anh Ba Thành vài tuổi. Hai cha con nương tựa vào nhau, sống ở khu vực Bến Nhà Rồng. Người cha làm phu khuân vác, còn cô phụ trách việc cơm nước, hậu cần cho cha và các công nhân bốc vác độc thân tại đây.
Trong truyện, mối quan hệ giữa anh Ba và Út Huệ được khắc họa rất tinh khôi, sâu lắng. Chi tiết anh Ba trao lại chiếc lược của người mẹ quá cố, bà Hoàng Thị Loan, cho Út Huệ trước lúc lên tàu là một trong những phân đoạn xúc động nhất...

Các nhà phê bình phản đối gay gắt vì cho rằng: lãnh tụ cách mạng thì tâm trí chỉ có Tổ quốc và nhân dân, không thể vướng bận chuyện tình cảm nam nữ cá nhân.
Việc Sơn Tùng đưa nhân vật Út Huệ vào truyện bị một số người quy kết là “tầm thường hóa”, “yếu đuối hóa” hình tượng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.
Một người như lãnh tụ Hồ Chí Minh, theo họ, không thể có chuyện yêu đương như người phàm. Viết như Sơn Tùng là hạ thấp hình tượng vĩ nhân.

Các nhà quản lý tư tưởng chất vấn gay gắt: “Dựa vào cơ sở nào mà dám viết Bác Hồ có người yêu?”, “Tại sao lại gán ghép một vĩ nhân gánh vác sơn hà với những tình cảm nam nữ ủy mị?”. Họ cho rằng việc đưa yếu tố yêu đương vào làm “mất đi sự thuần khiết, ý chí sắt đá” của một nhà cách mạng vĩ đại.

Thậm chí có ý kiến cực đoan còn quy kết Sơn Tùng tội “xuyên tạc lịch sử” và “bịa đặt BÔI NHỌ LÃNH TỤ”. Còn may, do là thương binh hạng 1/4, nên tác giả chưa bị đấu tố là phản động.
Số phận chính trị của Sơn Tùng nguy đến nơi, còn tác phẩm Búp sen xanh đang có nguy cơ bị thu hồi. Cơ quan chức năng đã lên kế hoạch thu hồi sách và kỷ luật tác giả. Ban Tuyên giáo lúc đó đã phải cử cán bộ đến gặp riêng ông Trần Tam Giáp, trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để điều tra xem “Sơn Tùng là người thế nào, động cơ chính trị là gì mà lại dám viết như thế”.
***
May mắn thay, giữa cơn bão đấu tố ấy, vị cứu tinh - Thủ tướng Phạm Văn Đồng - đã xuất hiện.
Sau khi đọc Búp sen xanh, Thủ tướng đã phán rằng chính những chi tiết “bị phê phán” ấy mới là thứ làm cho hình tượng Bác Hồ trở nên gần gũi, vĩ đại một cách chân thực.
Nghe đồn rằng, ông Thủ tướng đã mời tác giả đến gặp và khen: “Chú viết rất tốt. Chú đã đưa Bác Hồ từ một vị thần thánh trở về làm một con người bình dị, rồi từ con người bình dị đó mới vươn lên thành một vĩ nhân”.
Không những thế, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đích thân viết lời tựa cho cuốn sách tái bản lần thứ hai vào năm 1983.
***
Đến nay thì ai cũng biết:
Búp sen xanh đã được tái bản hơn 30 lần.
Tác giả Sơn Tùng được phong Anh hùng Lao động, được thưởng Huân chương Độc lập, và được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Tất cả các danh hiệu đó nghe nói chủ yếu nhờ Búp sen xanh...
***
Viết về lãnh tụ thật khó.
Một số bạn phản đối cái tut này vì nghĩ tôi ủng hộ 'Chuyện với Thanh". Như đã nói tôi chưa đọc cuốn sách này. Không biết gì về nội dung của nó nên không thể nói về nó. Tôi chỉ viết về một vấn đề tôi biết trong quá khứ, về Búp sen xanh, về vấn đề nên viết như thế nào VỀ LÃNH TỤ!
***
Tôi cũng không biết gì về ông Nguyễn Thành Nam, nay vì dư luận ồn ào tôi mới vào xem về tiểu sử của ông. Đọc mới thấy ông cũng là một hạt giống đỏ, một tài năng toán học, một doanh nhân.
Cảm nhận của tôi, cuộc đời ông có một cái gì đó hơi khác khác: ông là nhà khoa học tự nhiên (toán học), một doanh nhân lại đi dạy môn TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH cho các sinh viên đại học. Một môn học lẽ ra người đứng lớp là các nhà tư tưởng, là giảng viên chính trị, lịch sử...

Với ông có lẽ nên đứng lớp các môn: Toán cao cấp, Toán rời rạc, Giải thuật và Lý thuyết tính toán, Toán tối ưu, hay toán ứng dụng...
Hoặc là một doanh nhân ông nên dạy:Quản trị Khởi nghiệp, Quản trị Chiến lược, Phân tích và Quản lý danh mục đầu tư...
Hình như ông có chút định hướng sai khi đứng lớp dạy về TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH và cái sai tiếp theo ông đi viết sách về cụ Hồ chăng...

Vì vậy, các bạn đã đọc cuốn sách này, thấy sai các bạn cứ lên tiếng, nhưng tránh vết xe đổ vụ phê bình BÚP SEN XANH tôi viết ở trên.
Nếu các bạn phê phán đúng thì cựu sinh viên chuyên toán, tiến sỹ toán, doanh nhân Nguyễn Thành Nam, và các nhà khoa học như anh ấy sẽ nhận được bài học và các bạn nói sai anh ấy cũng như các nhà khoa học đó cũng sẽ nhận được bài học...cho chính mình!

Ps: Văn Cao chính là người vẽ minh họa từ trang bìa đến các minh họa trong cuốn sách Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng. Khi vẽ tranh minh họa cho sách hay báo Văn Cao chỉ luôn ký 1 chứ Văn duy nhất dưới mỗi tác phẩm.

05/06/2026

KHÔNG CÓ CHUYỆN VĂN CAO VÀ PHẠM DUY SÁNG TÁC CHUNG " BẾN XUÂN" VÀ "SUỐI MƠ"

Mùa xuân năm 1944, Phạm Duy theo gánh hát cải lương Đức Huy Charlot Miều mới được thành lập và xuống Hải Phòng biểu diễn ra mắt lần đầu tiên. Trong gánh hát, lúc đầu Phạm Duy chỉ làm những công việc tạp vụ: dọn phông màn, bán vé, xếp chỗ ngồi, vẽ quảng cáo…

Sau một vài đêm diễn, phát hiện Phạm Duy có một giọng hát hay, ông chủ gánh hát bèn bổ sung tiết mục cho Phạm Duy ra hát lấp chỗ trống trong thời gian thay cảnh.

Lần đầu được đứng trên sân khấu, với phong cách cách lãng tử và một giọng ca bẩm sinh ấm áp, qua hai tác phẩm: Bản đàn xuân của Lê Thương, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Phạm Duy đã gây được ấn tượng trong lòng người xem. Qua một số người bạn ở Hải Phòng, Phạm Duy biết tới những sáng tác của Văn Cao. Những ngày sau đó, bài hát Buồn tàn thu của Văn Cao đã được Phạm Duy biểu diễn và được khán giả Hải Phòng ghi nhận.

Khi gặp Văn Cao, Phạm Duy chỉ là một ca sĩ mới vào nghề, có một sáng tác đầu tay chưa được ai biết là Cô hái mơ (1942), phổ thơ Nguyễn Bính. Trong khi đó, Văn Cao đã là một nhạc sĩ nổi tiếng Hải Phòng trong nhóm Đồng Vọng với hàng loạt ca khúc: Buồn tàn thu (1939), Thiên Thai (1941), Trương Chi (1942), Suối mơ (1942), Thu cô liêu (1942), Bến xuân (1943), Cung đàn xưa (1943)… Cho nên không có chuyện “một vài bài hát như Bến Xuân, Suối mơ, Đàn chim Việt… Văn Cao sáng tác cùng với Phạm Duy” như một số ấn phẩm âm nhạc đã đăng. Qua lời kể của cha, tôi biết rằng: “Không có chuyện Văn Cao sáng tác chung với Phạm Duy”.

Cuộc gặp gỡ lần đầu mới được “dăm bữa, nửa tháng” chưa đủ để Văn Cao hiểu rõ về Phạm Duy. Tuy nhiên, Văn Cao đã nhìn thấy trước được “tiềm năng âm nhạc” trong con người Phạm Duy, vì thế ông động viên và khuyên “mày nên đi vào sáng tác…”. Tình bạn giữa hai người bắt đầu từ những ngày đó

Còn Phạm Duy, trong hồi ký của mình, ông đã viết: “Trong thời gian ở Hải Phòng… tôi có may mắn gặp một người bạn. Người đó là Văn Cao”.

Sau gần 2 tháng biểu diễn tại Hải Phòng, Phạm Duy tạm biệt Văn Cao cùng gánh hát Đức Huy tiếp tục cuộc hành trình từ Bắc vào Nam. Trong hành trang của mình, Phạm Duy đã có thêm một số tác phẩm của Văn Cao.

Sau hai năm gắn bó với gánh hát Đức Huy, biểu diễn khắp các tỉnh ở miền Nam trung tuần tháng 6/1945, Phạm Duy rời bỏ gánh hát để trở thành ca sĩ tự do tại Sài Gòn. Cuối tháng 10/1945, Phạm Duy ra Hà Nội. Gặp lại Văn Cao, mới biết bạn mình là tác giả của bài Tiến quân ca và một loạt ca khúc cách mạng khác như: Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam…

Gặp Văn Cao và bạn bè cùng giới tại một số tụ điểm âm nhạc tại Hà Nội lúc đó, Phạm Duy đã là một ca sĩ thành danh và cũng đã có những sáng tác ban đầu được ghi nhận như: Chinh phụ ca, Cây đàn bỏ quên, Gươm tráng sĩ, Khối tình Trương Chi. Tuy nhiên với Văn Cao, Phạm Duy đã phải cảm phục thốt lên: “Văn Cao thật là một con người tài hoa. Nhạc tình của nó hay, nhạc hùng của nó cũng hay không kém như: Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam…”.

Đầu năm 1946, Phạm Duy gia nhập đội quân Nam tiến vào chiến trường Miền Nam, chiến đấu tại mặt trận Bà Rịa-Vũng Tàu. Cuối tháng 10/1946, Phạm Duy lại trở ra Hà Nội, lang thang và hát tại một số phòng trà. Ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, Văn Cao được giao nhiệm vụ tổ chức đưa một số các văn nghệ sĩ tản cư đi kháng chiến. Văn Cao gặp Phạm Duy tại một quán cà phê ở Phố Huế, ông trao cho Phạm Duy một tấm giấy, giới thiệu Phạm Duy về công tác tại Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam tại chùa Trầm. Được “dăm bữa, nửa tháng”, Phạm Duy lại bỏ đài để gia nhập đoàn kịch Giải Phóng của họa sĩ Phạm Văn Đôn.

Đầu tháng 5/1947, đoàn kịch Giải Phóng lên đến Lao Kay, Phạm Duy gặp lại Văn Cao. Văn Cao lên Lao Kay từ đầu năm 1947, phụ trách Đội điều tra Công an Liên khu X. Ông mở một quán ca nhạc, có tên là quán Biên Thùy bên kia cầu Cốc Lếu để làm vỏ bọc cho những hoạt động của mình.

Với uy tín của mình Văn Cao đã thành lập được một ban nhạc, tập hợp nhiều nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ có tên tuổi từ Hà Nội, Hải Phòng lên biểu diễn phục vụ khách hàng thâu đêm. Gặp Văn Cao tại quán Biên Thùy với một không gian âm nhạc ấm cúng, lãng mạn, Phạm Duy liền bỏ đoàn kịch Giải Phóng và rủ luôn cả ca sĩ Mai Khanh cùng nhạc sĩ Ngọc Bích ở lại với Văn Cao.

Gặp Văn Cao lần này, Phạm Duy không chỉ là ca sĩ mà còn là một nhạc sĩ đã thành danh. Văn Cao coi Phạm Duy là một người bạn đồng nghiệp. Hai người đã có thời gian để bàn bạc, trao đổi với nhau nhiều về nghệ thuật, hiểu rõ về nhau hơn, vì thế, ông đã thẳng thắn khuyên Phạm Duy: “Thế mạnh của mày là ở dân ca. Hãy khai thác và đưa chất liệu dân ca vào những sáng tác. Tao tin mày sẽ thành công. Cần tìm cho mình một con đường, một phong cách riêng…”.

Sau cuộc gặp gỡ này, hàng loạt những ca khúc của Phạm Duy đã ra đời. Năm năm đi theo kháng chiến, với hơn 40 ca khúc, Phạm Duy đã trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng, có nhiều đóng góp trong giai đoạn đó. Có thể kể ra một số bài điển hình như: Nhạc tuổi xanh, Gánh lúa, Nương chiều, Bà mẹ quê, Phố buồn, Bà mẹ Gio Linh, Bên cầu biên giới, Tiếng đàn tôi, Quê nghèo, Về miền Trung…

Phạm Duy hát tại quán Biên Thùy của Văn Cao gần ba tháng thì lại cùng Ngọc Bích chia tay Văn Cao ra đi. Cuộc chia tay giữa hai người lần này không vui vẻ lắm vì trong thời gian này Phạm Duy “phải lòng” một cô gái nhảy xinh đẹp là nhân viên hoạt động trong đội điều tra của Văn Cao.
Mối quan hệ này đã ảnh hưởng không tốt đến công việc của Văn Cao. Không chấp nhận được điều đó, Văn Cao tức giận, đuổi Phạm Duy đi. Trước khi dứt tình ra đi, Phạm Duy đã để lại cho người đẹp nơi biên ải một tình khúc nổi tiếng là bài Bên cầu biên giới (trong cuốn Phạm Duy còn đó nỗi buồn, Tạ Tỵ có viết về sự kiện này).

Cuối năm 1949, tại Thanh Hóa, Phạm Duy lấy vợ là ca sĩ Thái Hằng, em nhạc sĩ Phạm Đình Viêm. Giữa năm 1950, vợ chồng Phạm Duy được triệu tập lên Việt Bắc dự Đại hội Văn nghệ. Phạm Duy gặp lại Văn Cao. Đây là cuộc gặp cuối cùng giữa hai người để rồi họ xa nhau mãi mãi…

Sau Đại hội Văn nghệ, Phạm Duy trở về Thanh Hóa. Ngày 1/5/1951, Phạm Duy cùng gia đình từ bỏ kháng chiến, “dinh tê” về Hà Nội, rồi vào Sài Gòn sinh sống.

Tuy mỗi người ở một phương trời khác nhau nhưng Phạm Duy luôn kính trọng Văn Cao, coi ông là một nhạc sĩ lớn có nhiều ảnh hưởng trong sự nghiệp sáng tác của mình. Phạm Duy là người có công truyền bá các nhạc phẩm của Văn Cao đến với công chúng trên mọi miền đất nước. Nhiều tác phẩm của Văn Cao được ông đem ra phân tích và ca ngợi.

Đặc biệt với bài Trường ca Sông Lô ông đã viết: “Trường ca Sông Lô là một tác phẩm vĩ đại. Thằng bạn này vẫn là kẻ khai phá. Nó là cha đẻ của loại trường ca. Về hình thức, bài của nó chẳng thua gì bất cứ một tuyệt phẩm nào của loại nhạc cổ điển Tây phương”.

Từ những năm đầu của thập kỷ 1990, đã có tin đồn về việc Phạm Duy xin về nước, đến năm 1994 thì thấy bà Thái Hằng (vợ Phạm Duy) về và đến thăm cha tôi. Khi đó gia đình tôi mới biết tin Phạm Duy xin về nước là chính xác. Sau đó ít lâu, một cán bộ cấp cao bên ngành an ninh đã đến gặp cha tôi hỏi ý kiến. Cha tôi nói: “Phạm Duy là một nhạc sĩ có tên tuổi, có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc nước ta. Không thể phủ nhận được những tác phẩm của ông ta trong nửa đầu của cuộc kháng chiến. Nó là thằng bạn cũ của tôi. Tôi hiểu nó. Giờ đây Phạm Duy đã gần 80 tuổi rồi, còn làm gì được nữa đâu…”.

Đầu năm 2000, Phạm Duy về nước. Cha tôi không còn nữa. Ông tới nhà thăm mẹ tôi cùng gia đình rồi ra mộ thắp hương cho bố tôi.

Những ngày ở Hà Nội ông thường đến thăm và trò chuyện với vợ chồng tôi ở căn buồng nhỏ tại 102 Lê Duẩn. Ông vui vẻ cho tôi biết nhiều sự kiện trong cuộc đời của ông và cha tôi. Ông không giấu tôi bất cứ chuyện gì kể cả những chuyện riêng tư của ông.

Ông nói: “… Tao luôn ganh đua với bố mày. Bố mày có Thiên Thai, tao cũng có Tiếng sáo Thiên Thai. Bố mày có Trương Chi, tao cũng có Khối tình Trương Chi. Bố mày có Trường ca Sông Lô, tao cũng có Tiếng hát Sông Lô. Bố mày giỏi quá. Tao không thể bằng được”. Rồi ông tặng tôi cuốn hồi ký của ông. Qua hồi ký của ông cùng với cuộc gặp này, khiến tôi hiểu ra một điều - không giống nhiều người khác, Phạm Duy không có tính đố kỵ và viết hồi ký rất trung thực.

Còn Văn Cao, đối với Phạm Duy ông đã từng khẳng định: “Muốn nói gì thì nói, Phạm Duy vẫn là một nhạc sĩ lớn. Nó là người có công trong việc sử dụng các chất liệu dân ca đưa vào những sáng tác của mình một cách sáng tạo, mở ra một con đường cho các nhạc sĩ sau này đi theo. Không thể phủ định nó trong lịch sử của nền âm nhạc Việt Nam”.

Họa sĩ Văn Thao

Address

28 Lê Văn Lương
Hanoi
10000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn Cao còn mãi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Establishment

Send a message to Văn Cao còn mãi:

Share

Category