Nghi Lễ Việt Nam

Nghi Lễ Việt Nam Chia sẻ kiến thức trên các lĩnh vực văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán

CỘI NGUỒN TANG LỄ Trước tiên, trong bài viết này, đối tượng mà chúng tôi muốn hướng tới là nghi thức tang lễ của người V...
18/03/2026

CỘI NGUỒN TANG LỄ

Trước tiên, trong bài viết này, đối tượng mà chúng tôi muốn hướng tới là nghi thức tang lễ của người Việt. Như ta đã biết, người Việt tin vào một kiếp sống bên kia, tin vào linh hồn, và với họ sự chết chỉ là chết về mặt thể xác (Chết là thể xác, còn là tinh anh) còn thì linh hồn sẽ tồn tại vĩnh cữu. Chính bởi lối tư duy “vạn vật hữu linh” đó mà người Việt rất chú trọng tới đời sống ở kiếp sau, vì vậy, việc chuẩn bị thật chu đáo cho hậu sự của đời mình là điều hằng mong muốn của bất cứ ai. Do đó mà đối với người Việt, nghi thức mai táng, đôi khi còn quan trọng hơn rất nhiều những nghi lễ khác của vòng đời người.

Hiện nay rất khó để xác định chính xác thời điểm các nghi thức tang lễ của người Việt bắt đầu từ bao giờ. Trong các nền văn hóa cổ như Hòa Bình, Đông Sơn,… người ta đã tìm thấy những di vật được cho là đồ tùy táng của người Việt cổ. Điển hình như mộ thuyền Việt Khê được xác định thuộc nền văn hóa Đông Sơn. Bên trong mộ thuyền chứa hàng trăm đồ tùy táng các loại gồm các đồ dùng sinh hoạt, công cụ lao động, vũ khí chiến đấu,.. . Điều này phản ánh rõ nét phong tục mai táng quan niệm về cõi sống và cõi chết của người Việt cổ. Tuy nhiên những cứ liệu ghi chép về những nghi lễ cử hành tang lễ của giai đoạn này lại hầu như không nhiều mà phải đến khi người Hán đặt ách thống trị của họ lên cộng đồng người ở phía Nam sông Trường Giang; những thư tịch ghi chép việc thuế má, luật lệ hay những tập tục của cư dân Bách Việt đề cập tới nghi lễ tang ma của người Việt.

Hán Vũ Đế (156 – 87 TTL) sử dụng Nho học làm ý thức hệ duy trì trật tự xã hội, vì vậy, các kinh điển Nho học trở thành “sách giáo khoa” của mọi tầng bậc trong xã hội. Sử dụng Nho học đồng nghĩa với việc nghĩa với việc xã hội sẽ vận hành trên hệ thống các giáo lý Nho gia, nền tảng dựa trên Tứ thư – Ngũ kinh. Kinh lễ xuất hiện muộn hơn cả trong Ngũ kinh nhưng lại đóng vai trò rất lớn, từ Kinh lễ là cơ sở để hình thành nên rất nhiều lễ nghi trong đời sống của gia đình và xã hội; trong đó, nghi lễ mai táng của người Việt chịu ảnh hưởng khá rõ nét từ Kinh lễ/ Lễ ký của Trung Hoa. Về nội hàm chữ Lễ, giới nghiên cứu thường phân chia thành hai loại “Thứ nhất, Lễ gồm 8 loại, như thiên Hôn nghĩa sách Lễ ký viết: 禮 始 于 冠, 本 于 婚, 重 于 喪 祭, 尊 于 朝 聘, 和 于 鄉 射 “Lễ thủy vu Quan, bản vu Hôn; trọng vu Tang, Tế; tôn vu Triều, Sính; hòa vu Hương Xạ” (Lễ lấy Quan lễ để mở đầu, lấy Hôn lễ làm căn bản; lấy Tang lễ; Tế lễ làm long trọng; lấy Triều lễ, Sính lễ làm tôn kính; lấy Xạ lễ, Hương ẩm tửu lễ làm thân hòa). Thứ hai, Lễ gồm năm loại, như thiên Đại Tư đồ sách Chu Lễ viết: 以 五 禮 而 防 萬 民 之 偽, 而 教 之 中 “Dĩ ngũ lễ nhi phòng vạn dân chi ngụy, nhi giáo chi trung” (dùng năm lễ để phòng sự trá ngụy của muôn dân và dạy dân Trung đạo).[1] Sau này, dựa trên những kinh điển đã có, đặc biệt là Kinh lễ/ Lễ ký Chu Hi (1130 – 1200), đã soạn ra Văn Công Gia lễ, sách được soạn vào năm Canh Dần (1170), ban đầu sách gồm hai thiên Tang và Tế, về sau này không biết người đời hay do chính ông thêm vào hai thiên Quan và Hôn nữa thành ra sách Văn Công Gia lễ. Sách Văn Công Gia lễ của Chi Hi viết ngày nay không còn, do là sách Gia lễ lưu hành trong không gian gia đình, dòng họ nên nhiều dị bản được soạn ra, bộ sách Gia lễ thông dụng nhất còn đến ngày nay, gồm 5 quyển và 1 phụ lục, gồm có:

Quyển 1: Thông lễ 通禮: Từ đường; Thâm y chế phục. Ngoài ra có: Tư Mã thị cư gia tạp nghi

Quyển 2: Quan lễ 冠禮: Quan; Kê.

Quyển 3: Hôn lễ 婚禮: Nghị hôn; Nạp thái; Nạp tễ; Thân nghênh; Phụ kiến cữu cô; Miếu kiến; Tế kiến phụ chi phụ mẫu.

Quyển 4: Tang lễ 喪禮: Sơ chung; Mộc dục, tập, điện, vi vị, phạn hàm; Linh tọa, hồn bạch minh tinh; Tiểu liệm; Đại liệm; Thành phục; Triêu tịch điện, thượng thực; Điếu, điện, bác; Văn tang, bôn tang; Trị tang; Thiên cữu, triều tổ, điện, bác, trần khí, tổ điện; Khiển điện; Phát dẫn; Cập mộ, hạ quan, từ hậu thổ, đề mộc chủ, thành phần; Phản khốc; Ngu tế; Tốt khốc; Phụ; Tiểu tường; Đại tường; Đàm. Ngoài ra có: Cư tang tạp nghi; Trí bác điện trạng; Tạ trạng; Úy nhân phụ mẫu vong sớ; Phụ mẫu vong đáp nhân sớ; Úy nhân tổ phụ mẫu vong khải trạng; Tổ phụ mẫu vong đáp nhân khải trạng.

Quyển 5: Tế lễ 祭禮: Tứ thời tế; Sơ tổ; Tiên tổ; Nễ; Kị nhật; Mộ tế.[2]

Có thể thấy rằng, mặc dù tồn tại ở nhiều dị bản khác nhau nhưng điểm chung là cách sách Gia lễ đều rất chú trọng tới Tang lễ, ngay trong Lễ ký nội dung có đề cập tới Tang lễ cũng chiếm phần nhiều nhất, điều khẳng định tầm quan trọng nếu như không nói là nhất của Tang lễ trong truyền thống văn hóa Á Đông nói chung và người Việt nói riêng. Người Việt chịu ảnh hưởng từ tư tưởng cho đến hệ thống giáo dục, bởi vậy, tầng lớp trí thức Nho học người Việt đều dựa vào kinh điển Trung Hoa để trước tác. Các sách Gia lễ của người Việt về sau đều dựa vào Văn Công Gia lễ, tiêu biểu phải kể đến các sách như: Tiệp kính gia lễ 捷徑家禮 của Ngô Sĩ Bình (?); Hồ Thượng thư Gia Lễ 胡尚書家禮 của Hồ Sĩ Dương (1621 – 1681); Thọ Mai Gia Lễ 壽梅家禮 của Hồ Gia Tân (1690 – 1760); Tang Tế Khảo nghi 喪祭考疑? (1894); Tang Tế bị ký 喪禮備記? (1911) v.v… Trong đó có hai cuốn, Hồ Thương thư Gia lễ 胡尚書家禮 và Thọ Mai Gia lễ 壽梅家禮, được đánh giá cao, trở thành những cuốn sách Gia lễ quan trọng bậc nhất của người Việt. Các sách này đều trình bày Tang lễ phỏng Chu Công Gia lễ, nhưng ở một số nghi thức các nhà nho người Việt đã tinh giản bớt để phù hợp với văn hóa người Việt. Sau này các nhà nho thời cận đại có soạn các sách như Gia lễ chỉ Nam của Nguyển Tử Siêu (1898 – 1965); An Nam phong tục sách của Mai Viên Đoàn Triển (1854 – 1919); Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1875 – 1921) …, đều có dựa theo Hồ Thượng thư Gia lễ và Thọ Mai Gia lễ, phần lớn các sách đều thống nhất các nghi thức trong tang ma.

Điểm lại một số tư liệu ở trên, chúng tôi thấy rằng, Gia lễ của người Việt nói chung và Tang lễ nói riêng đều chịu sự ảnh hướng từ văn hóa Nho gia Trung Quốc. Bởi vậy, về cơ bản, các nghi thức trong tang ma của người Việt đều có những nét tương đồng với tang ma của người Hán. Nhưng nói các nghi thức trong lễ tang của người Việt hoàn toàn đồng nhất với người Hán thì không đúng (chúng tôi nhấn mạnh), bởi những thành tố văn hóa nội sinh của người Việt sẽ biến đối văn hóa ngoại lai sao cho phù hợp với căn tính, não trạng của dân tộc mình. Nghi thức tang lễ của người Việt sẽ còn thay đổi theo thời gian, đặc biệt là sự du nhập của Công giáo vào xã hội Việt Nam, điều này làm nghi lễ mai táng của người Việt trở nên đa dạng, không còn tuyệt đối lệ thuộc vào những sách Gia lễ mang màu sắc Nho gia.

Chú thích:

[1] Dẫn theo: Lê Phương Duy, Tìm hiểu cấu trúc nội tại của Gia lễ, Tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm, số 2012, tr.173; 176.
[2] Dẫn theo: Phạm Thị Hường, Gia lễ của Chu Hi, bước đầu giới thiệu, Tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm, số 2011, tr. 678; 685.

Tác giả: Ngọc Anh - Cổ Phong ✅
Tranh: Kỹ thuật người An Nam - Henri Oger
___
Nghi Lễ Việt Nam - một chuyên đề thuộc dự án Cổ Phong ✅, do Công ty TNHH Vilapa phát triển.

TẾT NGUYÊN TIÊU | Quan niệm của người Việt Đến nay, chúng tôi chưa tìm được tư liệu cho biết chính xác thời điểm tập tục...
28/02/2026

TẾT NGUYÊN TIÊU | Quan niệm của người Việt

Đến nay, chúng tôi chưa tìm được tư liệu cho biết chính xác thời điểm tập tục cúng lễ trong dịp tết Nguyên Tiêu được truyền về Việt Nam. Tuy nhiên, khảo trong sách sử thì chúng tôi thấy rằng, cuốn sách ghi chép sớm nhất về phong tục trong dịp Tết này là An Nam chí lược của Lê Tắc. Trong đó, tác giả trình bày khá rõ về phong tục dưới thời nhà Trần: “Đêm Nguyên Tiêu (Rằm tháng Giêng), trồng những cây đèn ở giữa sân rộng gọi là đèn “Quảng Chiếu”, thắp đến mấy vạn ngọn, sáng rực cả trên trời dưới đất, thầy tu đi quanh tụng kinh Phật, các quan liêu lễ bái, gọi là “chầu đèn”.”[6] Phải chăng, sự tôn sùng đạo Phật thuở đó đã khiến cho những quan niệm nội sinh Phật giáo lan rộng và thẩm thấu vào quan niệm tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa của người Việt, trong đó có tục lệ dịp tết Nguyên Tiêu.

Tìm hiểu cụm từ “đèn Quảng Chiếu”, chúng ta được biết rằng đó là lễ hội Quảng Chiếu được diễn ra trong suốt hai triều đại Lý – Trần do vua làm chủ tế với ý nghĩa cầu trường thọ, quốc thái dân an. Lễ hội này cũng thường được tổ chức vào mùa Xuân, nhưng đôi lúc có thể diễn ra vào dịp khác khi tiếp đón sứ thần, khách quý… Quyển II, Việt Sử lược chép rằng: “Năm Canh Dần (1110)…Mùa xuân, tháng giêng, mở hội đèn Quảng Chiếu ở cửa Đại Hưng”[7]… Năm Bính Thân (1116)… Mùa xuân, tháng giêng, mở (hội) đèn Quảng Chiếu ở ngoài cửa Đại Hưng, làm sư bằng gỗ đánh chuông.”[8] Trong Kỷ nhà Lý, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm thứ 1 [1120], (Tống Tuyên Hòa năm thứ 2)… Tháng 2, mở hội đèn Quảng Chiếu.”[9] “Năm thứ 7 [1126], (Tống Khâm Tông Hằng, Tĩnh Khang năm thứ 1). Mùa xuân, tháng giêng, mở hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày đêm… Tháng 9, nước Chiêm Thành sang cống. Mở [24b] hội đèn Quảng Chiếu ở Long Trì, xuống chiếu cho sứ thần Chiêm Thành vào xem.”[10] Có thể thấy rằng “mật độ” ghi chép về lễ hội này trong chính sử khá dày đặc, chứng tỏ vị thế quan trọng của nó trong hoạt động nghi lễ, văn hóa của triều đình ta.

Nội dung tấm bia Sùng Thiện Diên Linh dựng năm Tân Sửu, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) tại chùa Long Đọi Sơn, Hà Nam mô tả rất kỹ lễ hội Quảng Chiếu này: “Dựng đài cao Quảng chiếu, hướng sân trước Đoan Môn…Dấu cơ vi ở dưới đất, như bánh xe xoay chuyển; rực ánh sáng ở giữa trời, như bóng ác chói chang. Lại có bảo thánh rực rỡ trang nghiêm; điện vàng viện bán. Do ý thánh dựng nên; đặt tượng vàng hai dãy. Dáng tỏ linh văn; hình phô kỳ lệ. Lại có hai tòa lầu hoa, trong treo chuông vàng, khắc chú tiểu mình mặc áo nâu sồng; vặn máy ngầm giơ vồ chuông lên đánh…”[11]. Sau nhà Trần, lễ hội này bị mai một, rất có thể phần tập tục chăng đèn, tụng kinh Phật đã được dung nhập vào phần lễ của ngày tết Nguyên Tiêu.

Theo nhà nghiên cứu Toan Ánh: “Tục ta tin rằng trong các ngày Rằm tháng Giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ Phật giáo. Trong dịp này, chùa nào cũng đông người tới lễ bái. Các cụ bà đã quy y cũng nhân ngày lễ này, đến chùa tụng kinh niệm Phật. Các cụ vừa lần tràng hạt vừa kể hạnh nghĩa là kể lại sự tích của đức Phật và chư bồ tát cũng như sự hy sinh cao cả của các người…”[12]. Ông nhấn mạnh: “Theo đạo Phật, ngày mùng Một và ngày Rằm mỗi tháng được coi là ngày Phật, các tín đồ Phật giáo trong những ngày này đều rủ nhau đi lễ chùa. Ngày mồng Một là ngày đầu tháng, nhưng đêm lại tối đen, còn ngày Rằm thì đêm có trăng sáng sủa. Trong một năm, ngày Rằm đầu tiên là Rằm tháng Giêng nên người ta xô nhau đi lễ Phật.”[13] Mai Viên Đoàn Triển cũng khẳng định: “Tết Thượng Nguyên và tết Trung Nguyên là hội lớn của nhà chùa.”[14]

Như vậy, ta có thể thấy rằng, khi tập tục cúng lễ trong ngày Rằm tháng Giêng truyền về Việt Nam, nó đã tiếp nhận tín ngưỡng bản địa nhằm phù hợp với đông đảo người Việt hơn và mang đậm màu sắc Phật giáo.

Chú thích:
6. Lê Tắc, An Nam chí lược, Nxb Lao Động, Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2009, tr. 68 – 69.
7. Việt sử lược, Trần Quốc Vượng (dịch), Nxb Thuận Hóa, 2001, tr. 112.
8. Việt sử lược, Trần Quốc Vượng (dịch), Sđd, tr. 114.
9. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt Sử ký toàn thư (mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18), Nxb Khoa học Xã hội, 1993, tr. 119.
10. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt Sử ký toàn thư (mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18), Sđd, tr. 122.
11. Viện Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập I, Nxb Khoa học Xã hội, 1977, tr. 404.
12. Toan Ánh, Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam, quyển Hạ, Sđd, tr. 339.
13. Toan Ánh, Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam, quyển Hạ, Sđd, tr. 440.
14. Mai Viên Đoàn Triển, An Nam phong tục sách, Nxb Hà Nội, 2008, tr. 29.

Tác giả: Lợi Lê - Cổ Phong ✅
___
Nghi Lễ Việt Nam - một chuyên đề thuộc dự án Cổ Phong, do Công ty TNHH Vilapa phát triển.

14/02/2026
Nguồn gốc Tết Nguyên ĐánNằm trong khu vực đồng văn Hán tự[3]. Về cơ bản, các giá trị văn hóa của Việt Nam, Triều Tiên, N...
13/02/2026

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán

Nằm trong khu vực đồng văn Hán tự[3]. Về cơ bản, các giá trị văn hóa của Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản ít nhiều đều chịu ảnh hưởng ở những khía cạnh khác nhau, với mức độ đậm nhạt khác nhau. Chính sợi dây liên kết chặt chẽ này khiến rất nhiều các giá trị văn hóa ở các nước thuộc khu vực “ngoại biên” Trung Hoa dễ bị lầm tưởng là bắt nguồn từ Trung Quốc. Ở đây, Tết Nguyên đán một cái Tết chung cho cả nền văn minh Á Đông cũng bị hiểu lầm có nguồn gốc từ người Hán.

Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, rất nhiều giá trị văn hóa nước ta là sự tổng hòa, giao thoa giữa hai nền văn hóa Việt, Hoa trên hai phương diện: cưỡng bức và tự nguyện. Trong đó, tộc Việt là tộc chịu ảnh hưởng sớm và mạnh mẽ nhất, đặc biệt vào thời Hán Vũ đế (111 trước Tây Lịch). Cũng rõ nhất vào thời Hán Vũ đế dân tộc Việt mới từng bước cụ thể việc du nhập nền văn hóa theo cả hai con đường tự nguyện – cưỡng bức mà phần nhiều ở đây là sự cưỡng bức; và Tết Nguyên đán là một ví dụ điển hình cho sự giao thoa ấy.

Điểm qua một số tư liệu có đề cập đến Tết Nguyên đán như: An Nam phong tục sách của Mai Viên Đoàn Triển (1854 – 1919); Nghi lễ cúng gia tiên của Minh Đường; Tết cổ truyền của người Việt của Lê Trung Vũ; Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên (1905 – 1975)… Chúng tôi thấy rằng các tác giả trình bày rất chi tiết và có hệ thống về các lễ nghi, phong tục có trong ngày Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, hầu hết các công trình của các học giả mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo cứu mang tính khái quát mà chưa đi sâu, tìm về cội rễ, căn nguyên của Tết Nguyên đán. Xuất phát từ những trăn trở trên, ở bài viết này chúng tôi tiến hành đi truy nguyên nguồn gốc Tết Nguyên đán.

Việc đi tìm cội nguồn Tết Nguyên đán của người Việt trước nhất chúng ta phải nhìn lại các dữ kiện được ghi chép trong chính sử của Trung Hoa, điều này cho phép chúng ta truy nguyên được nguyên do cho việc hình thành nên Tết Nguyên đán cho nền văn minh Á Đông nói chung. Dấu hiệu đầu tiên cho việc hình thành nên một cái Tết chung trong toàn bộ Trung Hoa lục địa là việc Tần Thủy Hoàng thống nhất được Trung Hoa vào năm 221 trước TL; trước đó, vào thời nhà Chu các nước chư hầu nối đuôi nhau hình thành và ở mỗi một nước chư hầu đều có nền tảng văn hóa riêng biệt (từ ngôn ngữ, văn hóa, phục trang…) với nhà Chu. Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa và cho thống nhất luôn cả chữ viết, hệ đo lường… dùng lịch“kiến Hợi”[4] để quán xuyến quốc gia, từ nhà Tần về sau, các vương triều cai trị Trung Hoa đều ý thức rất rõ việc tập trung quyền lực tối ưu nhất về tay mình. Nhà Tần tồn tại không quá lâu, sau đó, chính quyền rơi vào tay nhà Hán. Đầu thời Hán, về cơ bản mọi cơ chế quản lý đất nước vẫn dựa theo mô hình của nhà Tần, tức là dùng Pháp gia để quản trị đất nước. Năm 140 TTL vào đời Hán Vũ đế, ông đã cho cải cách nền chính trị của quốc gia bằng việc “Bãi truất Bách gia, độc tôn Nho học”; đây có thể được xem là cuộc cải cách lớn nhất và quan trọng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc suốt 2000 năm về sau. Khi lên ngôi Hán Vũ đế quy định dùng lịch “kiến Dần”[5] trong sinh hoạt, và việc sử dụng lịch “kiến Dần” ở đây biện giải cho việc Hán Vũ đế đang muốn quay trở lại với những thành tựu ban đầu của nhà Hạ, trước đó nhà Hạ một triều đại huyền sử trong lịch sử Trung Hoa sử dụng lịch “kiến Dần” trong sinh hoạt.

Nhưng theo như các nguyên cứu gần đây, đặc biệt là nghiên cứu của Trần Quốc Vượng thì lịch “kiến Dần” không có nguồn gốc từ nhà Hạ. Trong bài viết, đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội 1988, Trần Quốc Vượng cho rằng: “Lịch kiến Dần không phải lịch nhà Hạ mà là sự tham khảo “Kinh Sở tuế thời ký” của miền Kinh Sở ở Hoa Nam trong bối cảnh của nền văn minh lúa nước. Âm – Dương lịch là sự phối kết lịch can chi Hoa Bắc và lịch 12 con vật của miền Việt cổ (Bách Việt)”[6] . Đi tới kết luận Trần Quốc Vượng gọi đó là Lịch Hoa Việt[7] hay Âm – Dương lịch. Lịch này chính là sản phẩm của lối tư duy tổng hợp kết hợp cả chu kỳ mặt trăng lẫn mặt trời của vùng văn minh nông nghiệp lúa nước mà trong bài về Tết được đăng trên Tạp chí Indochine, học giả Nguyễn Văn Huyên cũng khẳng định:“Tết, theo cả sự diễn biến của mặt trăng với mặt trời”[8]. Do đó, Tết được xác định là nương theo lịch này.

Trở lại vấn đề này, nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng cho rằng vào thời Hán, các vua nhà Hán cùng Hán Vũ Đế cho thi hành lịch này ở mảnh đất Nam Giang thuộc phía Nam của hạ lưu sông Trường Giang (vùng Hoa Nam). Nơi đây là trung tâm sản xuất nông nghiệp, vựa lúa chính của Trung Hoa. Chính vì vậy từ đời Hán, lịch để xác định thời vụ sản xuất nông nghiệp phải nương theo miền khí hậu thời tiết của miền Hoa Nam Bách Việt Cổ. Như vậy, việc nhà Hán cho rằng lịch “kiến Dần” có nguồn gốc từ nhà Hạ là không có cơ sở, mà trước hết lịch “kiến Dần” ở đây phải là lịch của cộng đồng người Hoa Nam Bách Việt Cổ.

Có thể nói, lịch “kiến Dần” chỉ là cách gọi lại của nhà Hán, nó chỉ được sinh ra từ nhu cầu quản lý đất nước hơn là sự quay trở lại với nhà Hạ theo những tuyên bố trước đó.

Qua những dẫn chứng trên, ta có thể thấy rằng, Tết Nguyên đán thực chất bắt nguồn từ cộng đồng Bách Việt cổ, nó gắn liền với sinh hoạt, đời sống của cư dân lúa nước. Sau này, khi người phương Bắc tràn xuống phía Nam, qua thời gian dài hỗn dung với văn hóa người phương Bắc, Tết Nguyên đán đã biến thành một cái Tết chung cho các khu vực đồng văn – Hán tự.

Chú thích:
3. Phan Huy Chú (2007) Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo Dục.
4. Nguyễn Văn Huyên, “Tết Nguyên Đán của người An Nam”, Tạp chí Indochine, số 75 và 76, ngày 12 tháng 12 năm 1942.
5. Nhiều tác giả (2020), Tết Việt Nam xưa, Du Uyên dịch, Nxb Thế Giới.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (quyển 2), Viện sử học dịch, Nxb Giáo Dục.
7. Samuel Baron (2019), Mô tả vương quốc Đàng Ngoài, Nxb Khoa học Xã hội.
8. Lê Tắc (1961), An Nam chí lược, Nxb Đại học Huế.

Tác giả: Ngọc Anh - Cổ Phong
___
Tranh: Kỹ thuật người An Nam - Henri Oger
Nghi Lễ Việt Nam - một chuyên đề thuộc dự án Cổ Phong ✅, do Công ty TNHH Vilapa phát triển.

Chữ “tảo” (掃) mang ý nghĩa là quét dọn, làm sạch, được cấu tạo từ bộ thủ (手) chỉ hành động của con người, kết hợp với hì...
12/02/2026

Chữ “tảo” (掃) mang ý nghĩa là quét dọn, làm sạch, được cấu tạo từ bộ thủ (手) chỉ hành động của con người, kết hợp với hình tượng cây chổi, gợi lên việc vệ sinh, thanh lọc không gian cho sạch sẽ, trang nghiêm.
Chữ “mộ” (墓) chỉ nơi an táng người đã khuất, với bộ thổ (土) biểu trưng cho đất - chốn trở về của thân xác, gợi sự khuất lấp, xa vắng.

Cổ phó lạp nguyệt nhị thập tứ,Táo quân triều thiên dục ngôn sự.Vân xa phong mã tiểu lưu liên,Gia hữu bôi bàn phong điển ...
10/02/2026

Cổ phó lạp nguyệt nhị thập tứ,
Táo quân triều thiên dục ngôn sự.
Vân xa phong mã tiểu lưu liên,
Gia hữu bôi bàn phong điển tự.

Hăm ba tháng Chạp,
Thần bếp Táo công.
Gửi tới Cửu Trùng,
Mấy lời khiếu nại

Ròng rã năm trời,
Sắm cho bộ cánh,
Kể thì cũng bảnh,
Mũ áo hẳn hoi,
Nhưng phải cái tồi,
Manh quần không có

Hàng năm, dịp Tết đến Xuân về, vào ngày 23 tháng Chạp, mỗi gia đình người Việt lại tất bật chuẩn bị bữa cơm tiễn ông Táo về trời. Đến nay, phong tục này vẫn được gìn giữ và phát huy.

Bàn thờ Táo quân rất đa dạng, phổ biến là dùng mặt tủ để làm ban thờ hoặc dùng mảnh gỗ treo lên trên vách tường hoặc dùng khung tre làm khám thờ. Vị trí thờ thần Táo quân thường đặt ở phía đầu hồi phía tây của ngôi nhà. Vì theo kinh nghiệm của dân gian “Đông phòng Tây Táo”, có nghĩa là buồng ngủ thì làm bên hướng Đông, thờ Táo quân thì ở hướng Tây.

Theo Toan Ánh: “Bàn thờ Thổ công (thờ chung Thổ địa, Thổ kỳ gọi là Táo quân) thường đặt ngay ở gian bên, cạnh bàn thờ tổ tiên. Tại những gia đình không có bàn thờ tổ tiên, bàn thờ Thổ công được đặt ngay ở gian chính giữa nhà. Bàn thờ Thổ công giản dị hơn bàn thờ tổ tiên, và gồm một chiếc hương án kê liền với hậu tường gian nhà. Trên hương án có chiếc mâm nhỏ, giống chiếc bàn đặt trên hương án bàn thờ gia tiên, và ở trên cũng có ba đài rượu có nắp đậy như trên bàn thờ gia tiên vậy. Đằng sau chiếc bàn nhỏ này, kê cao hơn là bài vị Thổ công, hoặc có khi được thay thế bằng một cỗ mũ gồm ba chiếc, chiếc mũ đàn bà đặt ngay ở giữa và hai bên chiếc mũ đàn ông, cũng có nhà chỉ thờ một chiếc mũ. Đằng trước bàn thờ là bình hương hoặc đỉnh trầm. Hai bên bình hương hoặc đỉnh trầm là đôi nến, đôi ống hương. Ở những gia đình túng thiếu, bàn thờ Thổ công lại càng giản dị hơn. Có khi chỉ là một chiếc bàn, trên bàn có một bình hương và một cỗ mục đặt ngay sau bình hương. Dù bàn thờ có giản dị thế nào cũng vẫn là một bàn thờ và đủ biểu lộ sự thành kính của gia chủ đối với vị thần săn sóc gia cư mình”.

Táo quân trông coi mọi hoạt động của gia chủ, ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ vào thổ cư. Theo dân gian thì đây là vị thần liên quan đến việc họa, việc phúc của gia chủ. Bởi vậy, bài vị thường đề chung là “Định phúc Táo quân”. Ông được tôn là Đệ nhất gia chi chủ nghĩa, là vị chủ thứ nhất tại một nhà nên mỗi khi muốn cúng lễ điều gì gia chủ đều phải cúng Táo quân trước và xin phép ngài để những vị được cúng lễ có thể tới phối hưởng.

GS Trần Ngọc Thêm khẳng định vai trò của Táo rằng: “Sở dĩ Thổ công vừa là thần Thổ địa, vừa là Táo thần là bởi vì đất đai, nhà và bếp đối với các dân cư định canh định cư là đồng nhất, địa vị của chúng đều hết sức quan trọng”.
____________
Chốn Thiêng ✅ - một dự án do công ty TNHH Vilapa phát triển.

NGÀY TIỄN ÔNG TÁO VỀ TRỜI (trích Nội san Cổ Phong số 2)Hàng năm, dịp Tết đến Xuân về, vào ngày 23 tháng Chạp, mỗi gia đì...
04/02/2026

NGÀY TIỄN ÔNG TÁO VỀ TRỜI (trích Nội san Cổ Phong số 2)

Hàng năm, dịp Tết đến Xuân về, vào ngày 23 tháng Chạp, mỗi gia đình người Việt lại tất bật chuẩn bị bữa cơm tiễn ông Táo về trời. Đến nay, phong tục này vẫn được gìn giữ và phát huy. Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem nguồn gốc, ý nghĩa và các hoạt động trong dịp Tết này như thế nào?

🌱Nguồn gốc
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ công, Thổ địa, Thổ kỳ của Lão giáo Trung Hoa nhưng được Việt hóa thành huyền tích 2 ông 1 bà là thần Đất, thần Nhà và thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo quân hoặc ông Táo.

🌱Ông Táo của Trung Hoa
Táo quân là một vị thần có lịch sử lâu đời và lai lịch hiển hách trong văn hóa tín ngưỡng truyền thống Trung Hoa. Thời Tần Hán, Táo quân được coi là hiện thân hoặc hậu duệ của các bậc đế vương thời cổ đại Trung Hoa như Hoàng Đế[1], Viêm Đế[2], Chúc Dung[3]…
Sách Sự vật nguyên hội (事物原會) viết: “Hoàng Đế tác táo, từ vi Táo thần” nghĩa là Hoàng Đế tạo ra bếp đun, sau khi mất được phong là Táo quân. Sách Hoài Nam Tử (淮男子), phần Phiếm Vật Luận (氾物論) có đoạn: “Viêm Đế tác hỏa nhi tử vi táo”, (炎帝作火而死爲灶)nghĩa là Viêm Đế tạo ra lửa, sau khi mất, được phong làm Táo quân”. Sách Chu Lễ (周禮說) lại cho rằng: “Chuyên Húc thị hữu từ Viết Lê, vi Chúc Dung, tế dĩ vi táo thần”, nghĩa là Chuyên Húc có con là Lê, còn gọi là Chúc Dung, được thờ phụng như thần Táo quân[4]. Cuốn sách còn ghi rằng Ngài Tử Lê ở Dụ Tỏa là Táo Thần rồi thờ phụng.

Về sau hình tượng Táo quân từng bước được thế tục hóa, trở thành một nhân thần có tên tuổi, lai lịch cụ thể: “Trong sách Ngũ Kinh dị nghĩa (五經異義), Hứa Thận thời Đông Hán ghi: “Táo thần, tính Tô, danh Cát Lợi, phụ tính Vương danh Bác Giáp” nghĩa là thần Táo quân, họ Tô tên là Cát Lợi, vợ thần họ Vương tên là Bác Giáp”[5]. Như vậy, theo ghi chép trong thư tịch cổ của Trung Hoa, ban đầu Táo quân là hiện thân của những vị thần, người đầu tiên biết sử dụng lửa hoặc phát minh ra bếp đun nấu về sau Táo lại là một vị nam nhân bình thường, có gia đình, vợ con.

Bên cạnh sử sách, trong dân gian cũng lưu truyền nhiều câu chuyện về nguồn gốc của Táo quân: “Vùng Phúc Châu lưu truyền câu chuyện về một người tên là Trương Định Phúc, gia cảnh bần hàn nhưng lại lười biếng, ham mê cờ bạc đến mức khuynh gia bại sản, phải bán cả vợ. Người vợ vẫn thương xót chồng, thường giấu giếm cho ăn. Về sau, Trương Định Phúc xấu hổ vô cùng, đâm đầu vào bếp lò chết. Sau khi chết, Thượng Đế cho anh ta làm Táo thần”[6]. Hay câu chuyện ở vùng Hồ Nam, con gái út của Ngọc Hoàng thượng đế đem lòng yêu một chàng trai nghèo đốt than. Tây Vương Mẫu thương con gái nên xin Ngọc Hoàng phong cho chàng trai là Táo vương. Từ đó, con gái út Ngọc Hoàng được làm Táo vương bà bà. Thương sự nghèo khó của dân gian nên bà thường lấy cớ về thăm cha mẹ để mang đồ ngon vật lạ về chia cho mọi người. Phát hiện điều này Ngọc Hoàng vô cùng giận dữ nên hạ lệnh mỗi năm chỉ cho vợ chồng con gái về Thiên Đình một lần vào ngày 23 tháng Chạp.

Xuất phát từ thân phận cao quý của Táo mà lễ cúng luôn được tổ chức một cách trang trọng. Như Trần Hạnh Nguyên cho biết: “Tư Mã Thiên đã ghi trong Sử ký – Vũ đế bản ghi: “Thiên tử sử thần tư táo” nghĩa là Thiên tử đích thân chủ tế Táo Quân. Sách Hán thư viết: “Đại phu tế môn, hộ, tỉnh, táo, trung lưu, ngũ tế” nghĩa là Đại phu đảm trách năm loại tế lễ: Môn thần, Hộ thần, Tính thần (thần Giếng), Táo thần (thần Bếp) và trung lưu thần”[7].

Nhắc tới vai trò của ông Táo, sách Kính Táo toàn thư chép rằng: “Táo Thần hưởng nhang khói của một nhà, gìn giữ sức khỏe cho người trong gia đình, theo dõi việc thiện ác của gia đình, tâu trình công tội của nhà đó” (thụ nhất gia hương hỏa, bảo nhất gia khang thái, sát nhất gia thiện ác, tấu nhất gia công quá). Với nhiệm vụ bảo hộ sinh mạng cho gia chủ nên Táo quân còn được gọi là Tư mệnh Thần quân.

🌱Ông Táo ở Việt Nam
Theo tác giả Trần Hạnh Nguyên: “Tín ngưỡng thờ cúng Táo quân của người Việt chịu ảnh hưởng của người Hán từ thời Tống”[8]. Tuy nhiên, người Việt tiếp thu tín ngưỡng thờ Táo quân có chọn lọc và cải biên cho phù hợp với đời sống văn hóa của dân tộc ta.

Nhà nghiên cứu văn hóa Toan Ánh có ghi chép sự tích Táo quân được lưu truyền ở Việt Nam: “Ngày xưa có hai vợ chồng nhà kia, chồng là Trọng Cao vợ là Thị Nhi. Đôi vợ chồng lấy nhau đã lâu không có con, buồn phiền thường cãi cọ nhau rồi đến một hôm, Trọng Cao giận quá đánh vợ. Bị chồng đánh, bực mình, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, gặp một chàng trai là Phạm Lang đem lời khéo léo quyến rũ nên được cùng Thị Nhi ăn ở thành vợ chồng. Khi Trọng Cao hết giận, thấy vợ đã bỏ đi mất, liền đi lùng kiếm khắp nơi để xin lỗi nhưng tìm mãi không thấy vợ, bỏ cả công ăn việc làm, đi khắp chốn này qua chốn khác. Hết tiền Trọng Cao phải hành khất lần hồi.
Một ngày nọ, Trọng Cao vào một nhà kia ăn xin. Bà chủ nhà mang cơm ra cho thì Trọng Cao nhìn chính là Thị Nhi, và Thị Nhi cũng nhận ra chồng cũ của mình. Đôi bên tỏ hết nỗi niềm cùng nhau. Thị Nhi cũng hối hận vì đã trót lấy Phạm Lang. Đôi bên cùng nhau hàn huyên một chập, nhưng chợt Thị Nhi nghĩ nếu bất thần Phạm Lang trở về bắt gặp thì thật là khó ăn khó nói, nàng liền bảo người chồng cũ hãy tạm ra ẩn ở đống rơm ngoài vườn để nàng lo liệu sao cho mọi việc được vẹn toàn. Hôm đó, khi Phạm Lang về bỗng nhớ đến ngày mai không có tro bỏ ruộng, châm lửa đốt đống rơm để hôm sau lấy tro. Trọng Cao lúc ấy vì ban ngày đi nhiều mỏi mệt đã ngủ say trong đống rơm và ở trong nhà, Thị Nhi cũng đã ngon giấc. Trọng Cao bị đốt chết, lửa đống rơm bốc cháy phừng phừng. Thị Nhi ở trong nhà chạy ra biết Trọng Cao đã bị đốt chết, thương quá cũng nhảy vào chết trong đống rơm đang cháy. Phạm Lang thấy vợ chết, thương xót, nhảy vào đống rơm theo vợ và cũng chết cháy nốt. Thế là cả hai ông và một bà đều bị chết thiêu”[9].

Một số tích khác lại cho rằng, sau khi Thị Nhi đã lấy Phạm Lang, một hôm trong nhà cúng đốt mã ngoài sân, có một người hành khất vào ăn xin, Thị Nhi trông thấy là chồng cũ của mình, động lòng thương đem tiền gạo ra cho, bị Phạm Lang nghi ngờ, Thị Nhi lấy làm xấu hổ đâm đầu vào đống lửa đốt mã tự tử. Trọng Cao cảm tình ân nghĩa cũng đâm đầu vào lửa chết theo. Phạm Lang thương vợ cũng nhảy luôn vào đống lửa. Nhưng lửa đốt mã to tới đâu để có thể đốt cháy được ba người đây?

Linh hồn của ba vị được đưa lên Thiên Đình gặp Ngọc Hoàng, thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân nhưng mỗi người có nhiệm vụ khác nhau. Phạm Lang làm Thổ công, trông coi việc bếp, danh hiệu là Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân; Trọng Cao làm Thổ địa, trông coi việc nhà cửa, danh hiệu là Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần; Thị Nhi làm Thổ kỳ, trông coi việc chợ búa, danh hiệu là Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần. Đúng như câu ca dao được lưu truyền trong dân gian:
Thế gian một vợ một chồng
Không như nhà Táo, hai ông một bà.

Sự tích này cũng mang nét tương đồng với hình ảnh ba ông đầu rau trong bếp người Việt xưa. Ba ông đầu rau là ba hòn đất sét to được gọt đẽo cẩn thận, có hình thù như những chú ếch ngồi châu đầu vào nhau tạo thế ba chân để đỡ chiếc nồi trong quá trình nấu nướng. Người ta dùng những tảng đất to để khô từ trước Tết rồi gần đến ngày 23 mang ra gọt đẽo hoặc dùng đất sét nhão, đắp nặn thành hình ba ông đầu rau rồi đợi khô. Hàng năm, cứ ngày 23 tháng Chạp là ngày thay ba ông đầu rau mới, ba ông cũ sẽ được thả xuống ao để hóa.

Chú thích
[1] Hoàng Đế: hay còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế, là một vị quân chủ huyền thoại và là anh hùng văn hóa của văn minh Trung Hoa, được coi là thủy tổ của người Hán.
[2] Viêm Đế: hay còn gọi là Hỏa Đức Vương, là một vị vua cổ đại huyền thoại của Trung Quốc vào thời kỳ tiền triều đại.
[3] Chúc Dung: bản danh là Trọng Lê, là một nhân vật huyền sử sống vào thời Đế Khốc (Cao Tân Thị), theo Sử ký của Tư Mã Thiên thì ông là chắt của Đế Chuyên Húc.
[4] Tham khảo từ bài “Nghiên cứu so sánh tín ngưỡng thờ Táo quân của người Việt ở Việt Nam và người Hán ở Trung Quốc” của Trần Hạnh Nguyên, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 01 (127), 2014, tr. 99.
[5] Trần Hạnh Nguyên, bài “Nghiên cứu so sánh tín ngưỡng thờ Táo quân của người Việt ở Việt Nam và người Hán ở Trung Quốc”, đã dẫn, tr. 99-100.
[6] Trần Hạnh Nguyên, bài “Nghiên cứu so sánh tín ngưỡng thờ Táo quân của người Việt ở Việt Nam và người Hán ở Trung Quốc”, đã dẫn, tr. 100.
[7] Trần Hạnh Nguyên, bài “Nghiên cứu so sánh tín ngưỡng thờ Táo quân của người Việt ở Việt Nam và người Hán ở Trung Quốc”, đã dẫn, tr. 99.
[8] Trần Hạnh Nguyên, bài “Nghiên cứu so sánh tín ngưỡng thờ Táo quân của người Việt ở Việt Nam và người Hán ở Trung Quốc”, đã dẫn, tr. 110-111.
[9] Toan Ánh, Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam (quyển Thượng), Nxb Trẻ, 2005, tr. 86.

Tác giả: Lợi Lê - Cổ Phong ✅
___
Tranh: Kỹ thuật người An Nam - Henri Oger
Nghi Lễ Việt Nam - một chuyên đề thuộc dự án Cổ Phong, do Công ty TNHH Vilapa phát triển.

Address

Gia Lâm
Hanoi
12409

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nghi Lễ Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share