Long Bien Art Fair

Call Directions Website

Long Bien Art Fair Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Long Bien Art Fair, Art, Số 2 Long Biên 2, phường Ngọc Lâm, Quận Long Biên, Hanoi.

Bộ tác phẩm Trưng bày tại Art Republic / Ginza , Tokyo
24/09/2026

Bộ tác phẩm Trưng bày tại Art Republic / Ginza , Tokyo

Tác phẩm nghệ thuật gốm sứ và tường gốm "The Water of Life" (Nước của sự sống) của nghệ sĩ 吉川正道 (Masamichi Yoshikawa), đ...
24/09/2026

Tác phẩm nghệ thuật gốm sứ và tường gốm "The Water of Life" (Nước của sự sống) của nghệ sĩ 吉川正道 (Masamichi Yoshikawa), được trưng bày tại Sân bay Quốc tế Chubu Centrair ở Nhật Bản.
Thông tin chi tiết
• Tác giả: Nghệ sĩ gốm Masamichi Yoshikawa.
• Địa điểm: Sân bay Quốc tế Chubu Centrair (tầng 1, sảnh chờ đoàn).
• Đặc điểm: Tác phẩm kết hợp bức tường gốm lớn và các khối cầu bằng chất liệu thanh tịnh như thanh bạch, mang phong cách gốm hiện đại.

Ảnh : LBAF thực hiện

Bộ sưu tập tác phẩm điêu khắc ngoài trời của Bảo tàng nghệ thuật hiện đại thành phố Saitama , Nhật BảnẢnh : LBAF thực hi...
23/09/2026

Bộ sưu tập tác phẩm điêu khắc ngoài trời của Bảo tàng nghệ thuật hiện đại thành phố Saitama , Nhật Bản

Ảnh : LBAF thực hiện

Xem triển lảm của nghệ sĩ Quac Insiq tại Mori Art Museum / Roppongi , Tokyo.Ảnh : LBAF thực hiện
22/09/2026

Xem triển lảm của nghệ sĩ Quac Insiq tại Mori Art Museum / Roppongi , Tokyo.

Ảnh : LBAF thực hiện

Bộ sưu tập nghệ thuật Bảo Tàng Nghệ thuật quốc gia Yokohama Museum Ảnh : LBAF thực hiện
22/09/2026

Bộ sưu tập nghệ thuật Bảo Tàng Nghệ thuật quốc gia Yokohama Museum

Ảnh : LBAF thực hiện

THE FIGURE AND THE VOIDThree artists. Three generations. Three distinct artistic languages.Exhibition Dates: September 1...
20/09/2026

THE FIGURE AND THE VOID
Three artists. Three generations. Three distinct artistic languages.
Exhibition Dates: September 18–30, 2026
Venue: AN Fine Art Gallery, Ho Chi Minh City
Artists: Nguyễn Trinh Thi | Rodney Dickson | Đinh Công Đạt
Curator: Richard Vine
Hình và Hư Vô brings together three artists from different generations and artistic practices: Nguyễn Trinh Thi, Rodney Dickson, and Đinh Công Đạt, under the curatorial direction of Richard Vine.
Through moving image, painting, and sculpture, the exhibition explores the shifting relationship between presence and absence—between what appears before us and what remains elusive, withdrawn, or unseen.
Rather than seeking a single narrative or forcing a dialogue between the works, Hình và Hư Vô allows three distinct artistic languages to coexist within the same space. Their differences create a field of encounters in which the figure and the void are not opposites, but conditions that continually define one another.
HÌNH VÀ HƯ VÔ
Ba nghệ sĩ. Ba thế hệ. Ba ngôn ngữ nghệ thuật khác biệt.
Thời gian triển lãm: 18/09 – 30/09/2026
Địa điểm: AN Fine Art Gallery, TP. Hồ Chí Minh
Nghệ sĩ: Nguyễn Trinh Thi | Rodney Dickson | Đinh Công Đạt
Giám tuyển: Richard Vine
Hình và Hư Vô quy tụ ba nghệ sĩ thuộc 3 thế hệ và 3 ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau: Nguyễn Trinh Thi, Rodney Dickson và Đinh Công Đạt, dưới sự giám tuyển của Richard Vine.
Thông qua video art installation, hội họa và điêu khắc, triển lãm khám phá mối quan hệ luôn dịch chuyển giữa sự hiện diện và vắng mặt, giữa những gì hiện hữu trước mắt và những gì khó nắm bắt, ẩn khuất hoặc không thể nhìn thấy.
Thay vì tìm kiếm một câu chuyện chung hay cố gắng tạo ra một cuộc đối thoại giữa các tác phẩm, Hình và Hư Vô để ba ngôn ngữ nghệ thuật riêng biệt cùng tồn tại trong một không gian. Chính sự khác biệt ấy tạo nên một trường gặp gỡ, nơi hình và hư vô không phải là hai thái cực đối lập, mà là những trạng thái liên tục định hình và soi chiếu lẫn nhau.

Nguồn sưu tầm

VỀ SỰ SO SÁNH GIỮA ĐỖ MẠNH CƯỜNG VÀ ANDY WARHOLGần đây có ý kiến so sánh Đỗ Mạnh Cường với Andy Warhol, dựa trên phát ng...
19/09/2026

VỀ SỰ SO SÁNH GIỮA ĐỖ MẠNH CƯỜNG VÀ ANDY WARHOL

Gần đây có ý kiến so sánh Đỗ Mạnh Cường với Andy Warhol, dựa trên phát ngôn nổi tiếng của Warhol: “Kinh doanh là loại nghệ thuật hấp dẫn. Kiếm tiền là nghệ thuật, làm việc cũng là nghệ thuật và giỏi kinh doanh là nghệ thuật tuyệt vời nhất.”

Sự so sánh này cần được xem xét thận trọng, vì nó dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hai cách tiếp cận khác nhau đối với mối quan hệ giữa nghệ thuật và thương mại.

1. Andy Warhol: Nghệ thuật hóa thương mại

Khi Andy Warhol đưa ra phát ngôn trên, ông đang thực hiện một cuộc cách mạng về ý niệm trong nghệ thuật thế kỷ 20. Ông nhìn thấy bản chất xã hội tiêu dùng Mỹ những năm 1960 – nơi hàng hóa sản xuất hàng loạt và thương hiệu chi phối đời sống tinh thần. Bằng cách đưa hộp súp Campbell, chai Coca-Cola hay chân dung Marilyn Monroe vào tranh in lưới, Warhol không nhằm bán tranh theo cách thông thường. Ông dùng nghệ thuật để phản ánh, giễu nhại và phân tích chính xã hội tiêu dùng ấy.

Với Warhol, xưởng The Factory, các hoạt động truyền thông, tiệc tùng hay thậm chí việc lập kế hoạch kinh doanh đều trở thành chất liệu sáng tạo. Ông biến hành vi kinh doanh thành một phần của tác phẩm nghệ thuật ý niệm lớn, thách thức quan niệm truyền thống về nghệ thuật lúc bấy giờ – đặc biệt là chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng vốn đề cao cảm xúc cá nhân sâu lắng của họa sĩ.

2. Sự khác biệt về hướng sáng tác

Đặt Đỗ Mạnh Cường cạnh Warhol dễ tạo sự khập khiễng về mặt hệ tư tưởng sáng tác.

Triển lãm “Những mùa hoa trong ký ức” của Đỗ Mạnh Cường gồm các bức tranh hoa và phong cảnh, sử dụng chất liệu acrylic hoặc sơn dầu, mang tinh thần hậu ấn tượng – dã thú kết hợp yếu tố trang trí. Mục tiêu chính của các tác phẩm này là tạo vẻ đẹp dễ chịu, lộng lẫy, phục vụ nhu cầu trang trí không gian của nhóm khách hàng quan tâm đến thẩm mỹ lifestyle. Đây thuộc dòng nghệ thuật mang tính trang trí và thương mại truyền thống, thiên về cảm xúc thị giác hơn là tính phản biện xã hội hay đột phá ý niệm như Pop Art của Warhol.

Việc tận dụng danh tiếng từ lĩnh vực thời trang, không gian triển lãm có uy tín và mạng lưới quan hệ để giới thiệu tác phẩm là các hoạt động marketing – truyền thông phổ biến trong thị trường nghệ thuật hiện nay. Gán những hoạt động này với triết lý “Business Art” của Warhol dễ dẫn đến sự đánh đồng giữa hai cách tiếp cận khác nhau.

3. Ranh giới cần được giữ rõ

Điểm đáng lưu ý nằm ở sự phân biệt giữa hai khái niệm:

Nghệ thuật của kinh doanh: khi hành vi kinh doanh được nâng lên thành chất liệu và phương pháp sáng tạo, như cách Warhol đã làm.

Thương mại hóa nghệ thuật: khi nghệ thuật chủ yếu phục vụ mục tiêu bán hàng, xây dựng hình ảnh hoặc đáp ứng thị hiếu trang trí.

Warhol công khai thừa nhận và biến việc kinh doanh thành một phần của nghệ thuật. Trong khi đó, nếu một thực hành sáng tác nghiêng về tranh trang trí và dùng các thủ thuật truyền thông để thúc đẩy việc bán, rồi viện dẫn Warhol khi bị chất vấn về chiều sâu ý niệm, thì dễ tạo ra sự mơ hồ về tiêu chuẩn.

*

Andy Warhol là nhân vật đã nhìn thấu và định hình lại nhiều khía cạnh văn hóa của thời đại mình. Việc lấy tên ông để bảo chứng cho một triển lãm tranh hoa mang tính trang trí và lifestyle cần được xem xét kỹ lưỡng. Sự so sánh này phản ánh phần nào thực trạng tiêu thụ các biểu tượng văn hóa thế giới còn mang tính bề mặt, đồng thời cho thấy tầm quan trọng của việc hiểu rõ bản chất từng trào lưu nghệ thuật.

Việc giữ ranh giới khái niệm rõ ràng không nhằm phủ nhận quyền sáng tạo hay kinh doanh của bất kỳ ai, mà nhằm bảo vệ tiêu chuẩn chuyên môn cần thiết để thị trường nghệ thuật phát triển minh bạch và có chiều sâu hơn.
Nguồn bài viết : sưu tầm trang fb NGUYÊN HƯNG

Xem triển lãm lớn của nghệ sĩ RonMueck tại Bảo tàng đương đại Mori / Tokyo. Trân trọng,Ảnh : LBAF thực hiện
18/09/2026

Xem triển lãm lớn của nghệ sĩ RonMueck tại Bảo tàng đương đại Mori / Tokyo.

Trân trọng,
Ảnh : LBAF thực hiện

THỊ TRƯỜNG NGHỆ THUẬT KHÔNG VẬN HÀNH NHƯ MỘT “CHỢ CÁ” Với những món hàng thông thường như rau củ hay quần áo, sự lẫn lộn...
18/09/2026

THỊ TRƯỜNG NGHỆ THUẬT KHÔNG VẬN HÀNH NHƯ MỘT “CHỢ CÁ”

Với những món hàng thông thường như rau củ hay quần áo, sự lẫn lộn giữa hàng tốt và hàng xấu cùng với cạnh tranh về số lượng sẽ giúp người mua dần dần định ra được giá cả dựa trên giá trị sử dụng thực tế. Nhưng tác phẩm nghệ thuật là HÀNG HOÁ TÂM LÝ VÀ VĂN HOÁ. Giá trị của nó được quyết định bởi sự khan hiếm, tính nguyên bản và sự công nhận từ những định chế có uy tín như bảo tàng, người giám tuyển và nhà phê bình.

Khi thị trường tràn ngập sự mập mờ – bảo tàng cho thuê không gian để làm thương mại, các cuộc đấu giá từ thiện thổi giá ảo, tranh trang trí được gọi là kiệt tác – thì không tạo ra sự phân hóa lành mạnh. Thay vào đó, nó sinh ra hiện tượng THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG (Asymmetric Information). Người mua không có cách nào để phân biệt đâu là giá trị thật. Khi hàng kém chất lượng quá nhiều và lấn át nhờ truyền thông bẩn, chúng sẽ đẩy hàng tốt ra ngoài. Những nhà sưu tập nghiêm túc và nghệ sĩ chân chính sẽ rút lui, để lại thị trường cho những kẻ đầu cơ chộp giật.

Sự đông vui tự phát chỉ kéo dài thời kỳ hỗn loạn, chứ không tự sinh ra sự chuyên nghiệp.

Thị trường nghệ thuật không có chuyện đám đông sẽ sớm hình thành nên một cái chợ rồi tự chuyên nghiệp hóa. Thực tế lịch sử mỹ thuật ở các nước đang phát triển cho thấy điều ngược lại: sự đông vui thiếu kiểm soát chỉ làm kéo dài giai đoạn hỗn loạn và làm kiệt quệ lòng tin của công chúng.

Sự chuyên nghiệp hóa của một thị trường nghệ thuật không phụ thuộc vào số lượng người tham gia, mà phụ thuộc vào SỰ HOÀN THIỆN CỦA CÁC MẮC XÍCH TRUNG GIAN: những gallery tư nhân chuẩn mực, hệ thống nhà đấu giá minh bạch, đội ngũ giám định độc lập và luật pháp bảo vệ bản quyền.

Nếu không có những thiết chế này đứng ra làm bộ lọc và trọng tài, thì việc có thêm hàng ngàn họa sĩ tay ngang hay hàng trăm phiên đấu giá từ thiện bát nháo chỉ làm cái “chợ” ngày càng phình to về quy mô nhưng ngày càng suy thoái về chất lượng. Nó biến nền mỹ thuật thành một hội chợ thương mại hỗn độn chứ không phải một thị trường nghệ thuật có đẳng cấp.

Trên thế giới, việc bán tác phẩm nghệ thuật là một ngành vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật thực sự. Các gallery lớn như Gagosian hay Hauser & Wirth bán tranh bằng chiến lược triển lãm, xây dựng hồ sơ học thuật, kết nối với bảo tàng và định giá dựa trên tiến trình lịch sử của nghệ sĩ. Đó mới là sự chuyên nghiệp.

Còn việc mượn danh không gian bảo tàng công lập để nâng giá cho tranh cá nhân, lấy giá ảo từ thiện làm giá sàn thương mại, hay vẽ tranh hàng loạt rồi dùng lời lẽ đao to búa lớn để lòe bịp người mua thiếu kiến thức… những việc ấy ở Việt Nam lâu nay không phải là nghệ thuật bán tranh. Đó là các chiêu trò gian lận khái niệm và thao túng truyền thông. Gom tất cả những mưu mẹo này vào khái niệm “nghệ thuật bán tác phẩm” là một sự thỏa hiệp nguy hiểm, vô tình dung túng cho cái xấu và cái giả dối nhân danh quy luật thị trường.

Nói chung, cái “chợ” mỹ thuật Việt Nam hiện nay đã quá đông vui và thừa thãi hàng kém chất lượng. Điều chúng ta thiếu không phải là thêm người tham gia hay thêm chiêu trò bán hàng, mà là THIẾU SỰ MINH BẠCH VÀ LUẬT CHƠI và SỰ THÀNH THẬT CỦA NGƯỜI CHƠI. Nhìn nhận sự hỗn loạn bằng con mắt lạc quan tát nước theo mưa của tư duy con buôn chỉ khiến nền mỹ thuật mãi mãi dậm chân tại chỗ ở phân khúc thấp và hoang dã.

Giai đoạn Hậu Đổi mới, từ những năm 1990 đến đầu thập niên 2000, chính là một minh chứng sống động, một bài học xương máu cho thấy: trong nghệ thuật và thị trường nghệ thuật, không bao giờ có chuyện “lượng” tăng thì “chất” sẽ tự động tăng theo.

Nhìn lại cái kết của thời kỳ “trăm hoa đua nở” ấy, chúng ta sẽ thấy rõ sự sụp đổ mang tính hệ thống khi một thị trường vận hành hoàn toàn bằng tư duy “chợ hoang dã”.

Bài học lớn này hình như chưa bao giờ được đánh giá lại một cách thấu đáo và có hệ thống.
Nguồn : Bài viết sưu tầm từ FB NGUYÊN HƯNG
Ảnh : sưu tầm fb

THỰC TRẠNG BẤT PHÂN TRONG MỸ THUẬT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI: TỪ HIỆN TƯỢNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN SỰ HỖN LOẠN HỆ GIÁ TRỊSự kiện triể...
17/09/2026

THỰC TRẠNG BẤT PHÂN TRONG MỸ THUẬT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI: TỪ HIỆN TƯỢNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN SỰ HỖN LOẠN HỆ GIÁ TRỊ

Sự kiện triển lãm hội họa đầu tay mang tên “Những mùa hoa trong ký ức” của một nhà thiết kế thời trang danh tiếng tổ chức tại không gian của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã làm bùng nổ những làn sóng dư luận tương phản. Hiện tượng phân cực này, với một bên ca ngợi bốc trời và một bên chê bai đến mức phủ định sạch trơn, đã phơi bày những dịch chuyển đầy bản năng của thị trường văn hóa. Nhìn toàn cảnh, sự việc này vừa là một phản ứng bình thường của cơ chế truyền thông giải trí, lại vừa là một triệu chứng bất thường phản ánh sự lệch pha trầm trọng giữa phê bình chuyên môn và thị hiếu đại chúng trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đương đại.

*

Sự bất thường của sự kiện không nằm ở bản thân các bức tranh, mà nằm ở sự nhập nhèm văn từ lẫn khái niệm liên quan đến địa điểm tổ chức. Thực trạng này đã diễn ra phổ biến nhiều năm nay tại Việt Nam, biến một giao dịch dân sự thuần túy thành một bộ lọc uy tín ảo để dẫn dắt công chúng.

Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (cũng như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội), vốn là một thiết chế văn hóa mang tính di sản, luôn duy trì các khu vực hoặc phòng trưng bày chuyên dùng cho mục đích kinh doanh dịch vụ và cho thuê mặt bằng tổ chức sự kiện tư nhân. Bản chất của triển lãm này, cũng như rất nhiều sự kiện tương tự khác, là một hoạt động cá nhân mang tính thương mại. Tác giả bỏ kinh phí thuê không gian làm địa điểm trưng bày, tự chịu trách nhiệm về nội dung và tự xin cấp phép từ cơ quan quản lý văn hóa địa phương. Bảo tàng không hề đóng vai trò giám tuyển, tuyển chọn hay bảo trợ về mặt học thuật cho bộ tranh.

Tuy nhiên, thông qua các kênh truyền thông và mạng xã hội, thông tin thường được giật tít rút gọn hoặc diễn đạt lập lờ thành “Triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật”. Sự cắt xén thuật ngữ này khiến công chúng đại chúng mặc định rằng tác phẩm đã bước qua một hội đồng nghệ thuật gắt gao, được định chế công lập công nhận về giá trị lịch sử hoặc học thuật. Danh tiếng lâu năm của tòa dinh thự di sản vô tình trở thành cái mác sang trọng để mạ vàng cho tác phẩm, đánh tráo các tiêu chuẩn chuyên môn và đẩy ranh giới khen chê về hai thái cực cực đoan vì người xem phải dùng hệ quy chiếu của mỹ thuật hàn lâm để phán xét một sự kiện mang tính giải trí, phong cách sống.

Hệ lụy trực tiếp và nhức nhối nhất của sự bất phân này là việc nhiều họa sĩ cố tình ghi cụm từ “triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật” vào lý lịch nghệ thuật (CV) của mình như một công cụ thổi phồng hồ sơ. Trong thế giới nghệ thuật chuẩn mực quốc tế, việc một họa sĩ được bảo tàng mời trưng bày hoặc mua tranh lưu giữ là một vinh dự tối cao khẳng định vị thế sự nghiệp. Tại Việt Nam, việc cào bằng giữa một bên được hội đồng nghệ thuật lựa chọn và một bên bỏ tiền thuê không gian theo ngày đã làm rối tung toàn bộ hệ giá trị. Sự lập lờ này vô hình trung phủ nhận nỗ lực cống hiến cả đời của những nghệ sĩ làm nghề nghiêm túc, làm mất phương hướng thẩm mỹ của đại chúng và bạt tiếng hoàn toàn các tiếng nói phê bình chuyên môn khách quan trước làn sóng truyền thông thương mại.

*

Sự hỗn loạn của hệ sinh thái mỹ thuật Việt Nam tiếp tục được khuếch đại thông qua sự nhập nhèm giữa giá tranh đấu giá từ thiện và giá trị thương mại thực tế của tác phẩm trên thị trường thứ cấp. Lòng tốt và trách nhiệm xã hội khi bị tách rời khỏi sự minh bạch sẽ lập tức biến tướng thành một công cụ truyền thông độc hại.

Trong một phiên đấu giá thiện nguyện, giá gõ búa của một bức tranh hoàn toàn không phản ánh giá trị nghệ thuật hay mặt bằng giá cả thực tế của tác giả đó trên thị trường. Người mua sẵn sàng chi trả những con số cao ngất ngưỡng chủ yếu vì mục đích đóng góp cho cộng đồng, vì các mối quan hệ cá nhân với nhà tổ chức hoặc để tối ưu hóa hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp. Bức tranh lúc này đóng vai trò như một chứng nhận cho hành vi thiện nguyện hơn là một tài sản nghệ thuật được định giá sòng phẳng.

Nghịch lý xảy ra khi nhiều họa sĩ mang nguyên con số ảo từ các phiên từ thiện này về đặt làm mức giá sàn thương mại cho các tác phẩm sau này của mình. Sự ảo tưởng về vị thế khiến tranh của họ lập tức bị đóng băng trên thị trường thực, bởi không một nhà sưu tập tỉnh táo nào chịu bỏ ra một số tiền tương đương cho một giao dịch thương mại thuần túy thiếu các cơ sở định giá chuyên môn.

Chính sự lẫn lộn tiêu chuẩn này đã biến các sự kiện thiện nguyện thành một chiến trường ngầm, kích hoạt các làn sóng công kích, bài xích lẫn nhau trong giới họa sĩ. Khi một tác phẩm có chất lượng tạo hình trung bình nhưng đạt mức giá kỷ lục nhờ các mối quan hệ đại gia của tác giả, giới nghề lập tức nổ ra các cuộc tranh cãi, nghi ngờ phe cánh và cáo buộc thổi giá làm lũng đoạn thị trường. Ngược lại, những họa sĩ làm nghề nghiêm túc nhưng tranh đấu giá bị bán thấp hoặc ế ẩm do thiếu sự nâng đỡ của truyền thông đại chúng lại trở thành đối tượng bị giễu cợt, hạ thấp năng lực. Sự biến mất của tinh thần vô tư trong các hoạt động nhân văn không chỉ làm tổn thương giới nghề mà còn bào mòn lòng tin của công chúng, khiến các nhà sưu tập mới lạc lối trong một ma trận giá cả không có tính thanh khoản.

*

Mảnh ghép cuối cùng hoàn thiện bức tranh hỗn loạn của mỹ thuật Việt Nam hiện nay chính là sự bất phân và ngụy biện ranh giới giữa nghệ thuật thuần túy và tranh thương mại ứng dụng. Sự lệch pha về hệ quy chiếu này diễn ra ở cả hai chiều kích của đời sống sáng tác.

Ở chiều kích thứ nhất, một bộ phận họa sĩ và nhà nghiên cứu nặng tính hàn lâm luôn nhìn nhận tranh thương mại, tranh trang trí phục vụ không gian nội thất bằng một thái độ định kiến và khắt khe. Họ dùng các tiêu chuẩn về chiều sâu tư tưởng, ẩn ức tâm lý hay thông điệp vĩ mô để chê bai loại tranh này là nông cạn và rẻ tiền về ý niệm. Đây là một sự áp đặt khiên cưỡng bởi sản phẩm thương mại có sứ mệnh riêng biệt là đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ thị giác, tạo năng lượng tích cực và hòa hợp với không gian sống của người mua, hoàn toàn không có nghĩa vụ phải gánh vác các trọng trách học thuật phức tạp.

Ở chiều kích ngược lại, một hiện tượng phổ biến và đáng báo động là các họa sĩ thương mại tìm được một công thức vẽ ăn khách liền lập tức tiến hành công nghiệp hóa giá vẽ để sản xuất hàng loạt, nhưng vẫn tỉnh queo bàn chuyện nghệ thuật vị nghệ thuật trước công chúng. Họ vẽ hàng chục, hàng trăm bức tranh na ná nhau, chỉ thay đổi vài chi tiết nhỏ để tối đa hóa doanh thu từ tệp khách hàng chuộng trang trí. Tuy nhiên, khi xuất hiện trước truyền thông, họ lại ngụy biện bằng những ngôn từ đao to búa lớn về sự quằn quại tư duy hay sự thăng hoa tâm linh nhằm mục đích nâng giá trị thương mại của sản phẩm lên ngang hàng với các kiệt tác nguyên bản. Sự tự tôn giả tạo này làm cào bằng mọi giá trị, khiến người làm nghệ thuật đích thực bị khuất lấp trong khi người làm thương mại giỏi lại nắm giữ quyền định hướng thẩm mỹ xã hội.

*

Để dọn dẹp sự hỗn loạn mang tính hệ thống này, thị trường mỹ thuật Việt Nam bắt buộc phải thay đổi đồng thời hai mắt xích cấp bách nhất: ý thức, sự thành thật của đội ngũ họa sĩ và sự xuất hiện của các nhà giám tuyển, nhà phê bình độc lập có uy tín. Đây là mối quan hệ cộng sinh biện chứng giữa nội lực tự trọng và ngoại lực định hình luật chơi.

Sự thành thật của họa sĩ là điểm khởi đầu cho việc trả lại sự trong sạch cho nền mỹ thuật. Khi người vẽ dám sòng phẳng với giá vẽ của mình, tự tin tuyên bố tác phẩm của mình là nghệ thuật ứng dụng thương mại thay vì mượn danh triết lý để lòe bịp, hoặc chấp nhận sự cô đơn học thuật khi dấn thân vào nghệ thuật thuần túy, mọi sự lập lờ sẽ tự động biến mất. Một lý lịch nghệ thuật minh bạch, ghi rõ bản chất không gian thuê hay không gian được mời, chính là thước đo đạo đức nghề nghiệp tối thiểu để giữ gìn lòng tự trọng trước thị trường.

Song hành với nội lực đó, sự xuất hiện của các nhà giám tuyển và nhà phê bình độc lập đóng vai trò là bộ lọc và trọng tài của thị trường. Một nhà giám tuyển có uy tín dùng danh dự và tri thức nghệ thuật của mình để bảo chứng cho chất lượng triển lãm, kiên quyết không đứng tên cho các sự kiện vàng thau lẫn lộn vì lợi ích kinh tế. Đồng thời, những bài phân tích dũng cảm, sắc sảo của các nhà phê bình độc lập trước truyền thông sẽ tước đi vũ khí của những chiêu trò thổi giá, giúp bóc tách một cách sòng phẳng các giá trị tạo hình cốt lõi. Sự chuyên nghiệp hóa từ hai mắt xích này là liều thuốc duy nhất để giáo dục thẩm mỹ cho đại chúng một cách tự nhiên, giúp công chúng thoát khỏi ma trận khen chê cảm tính và đưa nền mỹ thuật trở về một trạng thái vận hành minh bạch, lành mạnh và trưởng thành.
Nguồn bài viết : FB NGUYÊN HƯNG

Ảnh sưu tầm FB

Address

Số 2 Long Biên 2, Phường Ngọc Lâm, Quận Long Biên
Hanoi
84

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Long Bien Art Fair posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category