17/09/2026
THỰC TRẠNG BẤT PHÂN TRONG MỸ THUẬT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI: TỪ HIỆN TƯỢNG TRUYỀN THÔNG ĐẾN SỰ HỖN LOẠN HỆ GIÁ TRỊ
Sự kiện triển lãm hội họa đầu tay mang tên “Những mùa hoa trong ký ức” của một nhà thiết kế thời trang danh tiếng tổ chức tại không gian của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã làm bùng nổ những làn sóng dư luận tương phản. Hiện tượng phân cực này, với một bên ca ngợi bốc trời và một bên chê bai đến mức phủ định sạch trơn, đã phơi bày những dịch chuyển đầy bản năng của thị trường văn hóa. Nhìn toàn cảnh, sự việc này vừa là một phản ứng bình thường của cơ chế truyền thông giải trí, lại vừa là một triệu chứng bất thường phản ánh sự lệch pha trầm trọng giữa phê bình chuyên môn và thị hiếu đại chúng trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đương đại.
*
Sự bất thường của sự kiện không nằm ở bản thân các bức tranh, mà nằm ở sự nhập nhèm văn từ lẫn khái niệm liên quan đến địa điểm tổ chức. Thực trạng này đã diễn ra phổ biến nhiều năm nay tại Việt Nam, biến một giao dịch dân sự thuần túy thành một bộ lọc uy tín ảo để dẫn dắt công chúng.
Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (cũng như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội), vốn là một thiết chế văn hóa mang tính di sản, luôn duy trì các khu vực hoặc phòng trưng bày chuyên dùng cho mục đích kinh doanh dịch vụ và cho thuê mặt bằng tổ chức sự kiện tư nhân. Bản chất của triển lãm này, cũng như rất nhiều sự kiện tương tự khác, là một hoạt động cá nhân mang tính thương mại. Tác giả bỏ kinh phí thuê không gian làm địa điểm trưng bày, tự chịu trách nhiệm về nội dung và tự xin cấp phép từ cơ quan quản lý văn hóa địa phương. Bảo tàng không hề đóng vai trò giám tuyển, tuyển chọn hay bảo trợ về mặt học thuật cho bộ tranh.
Tuy nhiên, thông qua các kênh truyền thông và mạng xã hội, thông tin thường được giật tít rút gọn hoặc diễn đạt lập lờ thành “Triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật”. Sự cắt xén thuật ngữ này khiến công chúng đại chúng mặc định rằng tác phẩm đã bước qua một hội đồng nghệ thuật gắt gao, được định chế công lập công nhận về giá trị lịch sử hoặc học thuật. Danh tiếng lâu năm của tòa dinh thự di sản vô tình trở thành cái mác sang trọng để mạ vàng cho tác phẩm, đánh tráo các tiêu chuẩn chuyên môn và đẩy ranh giới khen chê về hai thái cực cực đoan vì người xem phải dùng hệ quy chiếu của mỹ thuật hàn lâm để phán xét một sự kiện mang tính giải trí, phong cách sống.
Hệ lụy trực tiếp và nhức nhối nhất của sự bất phân này là việc nhiều họa sĩ cố tình ghi cụm từ “triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật” vào lý lịch nghệ thuật (CV) của mình như một công cụ thổi phồng hồ sơ. Trong thế giới nghệ thuật chuẩn mực quốc tế, việc một họa sĩ được bảo tàng mời trưng bày hoặc mua tranh lưu giữ là một vinh dự tối cao khẳng định vị thế sự nghiệp. Tại Việt Nam, việc cào bằng giữa một bên được hội đồng nghệ thuật lựa chọn và một bên bỏ tiền thuê không gian theo ngày đã làm rối tung toàn bộ hệ giá trị. Sự lập lờ này vô hình trung phủ nhận nỗ lực cống hiến cả đời của những nghệ sĩ làm nghề nghiêm túc, làm mất phương hướng thẩm mỹ của đại chúng và bạt tiếng hoàn toàn các tiếng nói phê bình chuyên môn khách quan trước làn sóng truyền thông thương mại.
*
Sự hỗn loạn của hệ sinh thái mỹ thuật Việt Nam tiếp tục được khuếch đại thông qua sự nhập nhèm giữa giá tranh đấu giá từ thiện và giá trị thương mại thực tế của tác phẩm trên thị trường thứ cấp. Lòng tốt và trách nhiệm xã hội khi bị tách rời khỏi sự minh bạch sẽ lập tức biến tướng thành một công cụ truyền thông độc hại.
Trong một phiên đấu giá thiện nguyện, giá gõ búa của một bức tranh hoàn toàn không phản ánh giá trị nghệ thuật hay mặt bằng giá cả thực tế của tác giả đó trên thị trường. Người mua sẵn sàng chi trả những con số cao ngất ngưỡng chủ yếu vì mục đích đóng góp cho cộng đồng, vì các mối quan hệ cá nhân với nhà tổ chức hoặc để tối ưu hóa hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp. Bức tranh lúc này đóng vai trò như một chứng nhận cho hành vi thiện nguyện hơn là một tài sản nghệ thuật được định giá sòng phẳng.
Nghịch lý xảy ra khi nhiều họa sĩ mang nguyên con số ảo từ các phiên từ thiện này về đặt làm mức giá sàn thương mại cho các tác phẩm sau này của mình. Sự ảo tưởng về vị thế khiến tranh của họ lập tức bị đóng băng trên thị trường thực, bởi không một nhà sưu tập tỉnh táo nào chịu bỏ ra một số tiền tương đương cho một giao dịch thương mại thuần túy thiếu các cơ sở định giá chuyên môn.
Chính sự lẫn lộn tiêu chuẩn này đã biến các sự kiện thiện nguyện thành một chiến trường ngầm, kích hoạt các làn sóng công kích, bài xích lẫn nhau trong giới họa sĩ. Khi một tác phẩm có chất lượng tạo hình trung bình nhưng đạt mức giá kỷ lục nhờ các mối quan hệ đại gia của tác giả, giới nghề lập tức nổ ra các cuộc tranh cãi, nghi ngờ phe cánh và cáo buộc thổi giá làm lũng đoạn thị trường. Ngược lại, những họa sĩ làm nghề nghiêm túc nhưng tranh đấu giá bị bán thấp hoặc ế ẩm do thiếu sự nâng đỡ của truyền thông đại chúng lại trở thành đối tượng bị giễu cợt, hạ thấp năng lực. Sự biến mất của tinh thần vô tư trong các hoạt động nhân văn không chỉ làm tổn thương giới nghề mà còn bào mòn lòng tin của công chúng, khiến các nhà sưu tập mới lạc lối trong một ma trận giá cả không có tính thanh khoản.
*
Mảnh ghép cuối cùng hoàn thiện bức tranh hỗn loạn của mỹ thuật Việt Nam hiện nay chính là sự bất phân và ngụy biện ranh giới giữa nghệ thuật thuần túy và tranh thương mại ứng dụng. Sự lệch pha về hệ quy chiếu này diễn ra ở cả hai chiều kích của đời sống sáng tác.
Ở chiều kích thứ nhất, một bộ phận họa sĩ và nhà nghiên cứu nặng tính hàn lâm luôn nhìn nhận tranh thương mại, tranh trang trí phục vụ không gian nội thất bằng một thái độ định kiến và khắt khe. Họ dùng các tiêu chuẩn về chiều sâu tư tưởng, ẩn ức tâm lý hay thông điệp vĩ mô để chê bai loại tranh này là nông cạn và rẻ tiền về ý niệm. Đây là một sự áp đặt khiên cưỡng bởi sản phẩm thương mại có sứ mệnh riêng biệt là đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ thị giác, tạo năng lượng tích cực và hòa hợp với không gian sống của người mua, hoàn toàn không có nghĩa vụ phải gánh vác các trọng trách học thuật phức tạp.
Ở chiều kích ngược lại, một hiện tượng phổ biến và đáng báo động là các họa sĩ thương mại tìm được một công thức vẽ ăn khách liền lập tức tiến hành công nghiệp hóa giá vẽ để sản xuất hàng loạt, nhưng vẫn tỉnh queo bàn chuyện nghệ thuật vị nghệ thuật trước công chúng. Họ vẽ hàng chục, hàng trăm bức tranh na ná nhau, chỉ thay đổi vài chi tiết nhỏ để tối đa hóa doanh thu từ tệp khách hàng chuộng trang trí. Tuy nhiên, khi xuất hiện trước truyền thông, họ lại ngụy biện bằng những ngôn từ đao to búa lớn về sự quằn quại tư duy hay sự thăng hoa tâm linh nhằm mục đích nâng giá trị thương mại của sản phẩm lên ngang hàng với các kiệt tác nguyên bản. Sự tự tôn giả tạo này làm cào bằng mọi giá trị, khiến người làm nghệ thuật đích thực bị khuất lấp trong khi người làm thương mại giỏi lại nắm giữ quyền định hướng thẩm mỹ xã hội.
*
Để dọn dẹp sự hỗn loạn mang tính hệ thống này, thị trường mỹ thuật Việt Nam bắt buộc phải thay đổi đồng thời hai mắt xích cấp bách nhất: ý thức, sự thành thật của đội ngũ họa sĩ và sự xuất hiện của các nhà giám tuyển, nhà phê bình độc lập có uy tín. Đây là mối quan hệ cộng sinh biện chứng giữa nội lực tự trọng và ngoại lực định hình luật chơi.
Sự thành thật của họa sĩ là điểm khởi đầu cho việc trả lại sự trong sạch cho nền mỹ thuật. Khi người vẽ dám sòng phẳng với giá vẽ của mình, tự tin tuyên bố tác phẩm của mình là nghệ thuật ứng dụng thương mại thay vì mượn danh triết lý để lòe bịp, hoặc chấp nhận sự cô đơn học thuật khi dấn thân vào nghệ thuật thuần túy, mọi sự lập lờ sẽ tự động biến mất. Một lý lịch nghệ thuật minh bạch, ghi rõ bản chất không gian thuê hay không gian được mời, chính là thước đo đạo đức nghề nghiệp tối thiểu để giữ gìn lòng tự trọng trước thị trường.
Song hành với nội lực đó, sự xuất hiện của các nhà giám tuyển và nhà phê bình độc lập đóng vai trò là bộ lọc và trọng tài của thị trường. Một nhà giám tuyển có uy tín dùng danh dự và tri thức nghệ thuật của mình để bảo chứng cho chất lượng triển lãm, kiên quyết không đứng tên cho các sự kiện vàng thau lẫn lộn vì lợi ích kinh tế. Đồng thời, những bài phân tích dũng cảm, sắc sảo của các nhà phê bình độc lập trước truyền thông sẽ tước đi vũ khí của những chiêu trò thổi giá, giúp bóc tách một cách sòng phẳng các giá trị tạo hình cốt lõi. Sự chuyên nghiệp hóa từ hai mắt xích này là liều thuốc duy nhất để giáo dục thẩm mỹ cho đại chúng một cách tự nhiên, giúp công chúng thoát khỏi ma trận khen chê cảm tính và đưa nền mỹ thuật trở về một trạng thái vận hành minh bạch, lành mạnh và trưởng thành.
Nguồn bài viết : FB NGUYÊN HƯNG
Ảnh sưu tầm FB