Chuột

Chuột Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chuột, Arts and entertainment, Đường Đại Cồ Việt, Hanoi.

A LITTLE LIFE – Một cuộc đời nhỏ bé (Hanya Yanagihara) Bản dịch tiếng Việt bởi: Chuột (là tui nè 🥹)Ngày hôm sau, Willem ...
24/02/2024

A LITTLE LIFE – Một cuộc đời nhỏ bé (Hanya Yanagihara)
Bản dịch tiếng Việt bởi: Chuột (là tui nè 🥹)


Ngày hôm sau, Willem đến gặp JB ở văn phòng nơi cậu làm việc. JB là lễ tân ở một hãng tạp chí tuy nhỏ nhưng có tầm ảnh hưởng ở SoHo, nơi đưa tin về các cảnh quan nghệ thuật ở trung tâm thành phố. Đây là một công việc mà cậu đã tính toán; kế hoạch của cậu, như đã từng kể với Willem tối nọ, rằng cậu sẽ cố gắng kết thân với một trong những biên tập viên ở đó và sau đó thuyết phục anh ấy để dành cho cậu một suất của bài đặc biệt trong tạp chí. Cậu đã ước tính việc này sẽ mất khoảng sáu tháng, nghĩa là cậu chỉ còn ba tháng nữa thôi.
JB luôn tỏ ra hoài nghi khi đi làm, một là vì lẽ ra cậu ta nên làm việc và hai là vì chưa có ai nhận ra khả năng thiên tài của cậu. JB không phải là một lễ tân giỏi. Mặc cho điện thoại đổ chuông liên tục dù ít hay nhiều, cậu ta cũng hiếm khi nhấc máy; khi bất kì ai muốn nối máy với/gọi điện cho cậu (tín hiệu của điện thoại phòng lễ tân không ổn định), họ phải tuân theo một quy luật đặc biệt: nháy máy hai lần, cúp máy, và sau đó gọi lại. Và mặc dù kể cả như vậy, vẫn có đôi lần cậu ta không nhấc máy—vì tay cậu đang bận rộn ở dưới bàn, chải và bện những búi tóc rối từ một cái túi nilon màu đen để phía dưới chân mình.

JB đang trải qua, theo cách gọi của cậu, thời kì tóc (rối) của mình. Dạo gần đây, cậu ấy đã tạm dừng việc vẽ tranh để chuyển qua làm những tác phẩm điêu khắc bằng tóc đen. Bọn họ đã dành cả ngày cuối tuần mệt mỏi theo JB đi từ các tiệm cắt tóc đến các tiệm làm đẹp ở Queens, Brooklyn, Bronx và Manhattan, chờ bên ngoài khi JB vào hỏi chủ tiệm các phần tóc đã được cắt hoặc quét đi, và kéo theo một túi đầy tóc mỗi lúc một lớn hơn sau lưng cậu xuống phố. Những tác phẩm gần đây của cậu bao gồm “The Mace”, một quả bóng tennis mà đã được cạo lông, chẻ đôi, và nhồi cát vào trước khi đem đi phủ keo và lăn qua lại trên một chiếc thảm trải đầy tóc để tạo hiệu ứng cho những sợi tóc như rong biển đang chuyển động dưới nước, và “The Kwotidien”, một tác phẩm mà cậu ta bọc các đồ gia dụng khác nhau—như một cái dập ghim; xẻng; cốc trà—bằng đầy các nhúm tóc. Hiện giờ, cậu đang thực hiện một dự án quy mô lớn mà cậu từ chối thảo luận với họ trừ khi nói một cách ngắn gọn và nhanh chóng, nhưng nó yêu cầu công việc chải và bện nhiều mảnh lại với nhau để tạo ra một sợi dây tóc đen xoăn vô tận. Thứ Sáu tuần trước đó cậu ta đã dụ dỗ họ đến bằng lời hứa hẹn rằng sẽ có pizza và bia, đổi lại họ sẽ giúp cậu bện tóc, nhưng sau nhiều giờ làm việc nhàm chán, nhận ra rằng không hề có pizza và bia như đã nói, họ đã rời đi, khá bực bội nhưng không quá ngạc nhiên về điều này.

Họ đều chán nản với dự án tóc đó, mặc dù Jude – người duy nhất trong số họ - nghĩ rằng những tác phẩm đó rất đẹp và một ngày nào đó sẽ được công nhận. Để cảm ơn, JB đã tặng cho Jude một cái lược phủ tóc, nhưng sau đó đã lấy lại món quà khi thấy bạn của bố Ezra có vẻ quan tâm đến việc mua nó (anh ta đã không mua, nhưng JB cũng không trả lại cái lược cho Jude). Dự án tóc cũng gặp khó khăn theo nhiều chiều hướng; một buổi tối khác, khi ba người họ lại bị lừa đến Little Italy bằng một cách nào đó để chải thêm tóc, Malcolm đã bảo rằng tóc có mùi hôi. Và nó thật sự có mùi: không phải của bất cứ thứ gì khó chịu mà chỉ là mùi kim loại nồng nặc của da đầu chưa gội. Nhưng JB đã nổi cơn thịnh nộ, và đã gọi Malcolm là một người da đen tự ghét chính mình, một kẻ nịnh nọt và một kẻ phản bội chủng tộc (bản gốc: “and had called Malcolm a self-hating Negro and an Uncle Tom and a traitor to the race”. Giải thích: Negro-một từ để chỉ người da đen, được sử dụng nhiều trong quá khứ và hiện tại nó mang ý nghĩa vô cùng xúc phạm; Uncle Tom-một từ mang tính xúc phạm chỉ những người da đen được coi là quá đồng tình với người da trắng hoặc sẵn lòng bị đối xử một cách thiếu công bằng so với người da trắng), và Malcolm, người rất hiếm khi tức giận nhưng đã nổi đóa vì những lời buộc tội như thế, đổ rượu của mình vào túi tóc gần nhất, đứng dậy và giậm chân ra ngoài. Jude đã vội vàng, hết sức có thể, đuổi theo sau Malcolm, và Willem thì ở lại để xử lý JB. Và mặc dù hai người họ đã hòa giải vào ngày hôm sau, nhưng cuối cùng Willem và Jude vẫn cảm thấy (không công bằng, họ biết vậy) hơi tức giận với Malcolm, vì cuối tuần sau họ lại phải quay trở lại Queens, đi từ tiệm cắt tóc này đến tiệm cắt tóc khác, cố gắng để thay thế túi tóc mà cậu ấy đã làm hỏng.

“Cuộc sống trên hành tinh đen thế nào?” Willem hỏi JB
“Đen thôi”, JB trả lời trong khi đang nhồi nhét đống tóc bện mà cậu đang gỡ rối vào trong túi. “Đi thôi; tao đã nói với Annika là tụi mình sẽ đến lúc một rưỡi rồi”. Chiếc điện thoại trên bàn bắt đầu đổ chuông.
“Mày không nhấc máy à?”
“Họ sẽ gọi lại thôi.”
JB cằn nhằn trong khi họ trên đường đi vào trung tâm thành phố. Gần đây, cậu ta đã tập trung hầu hết năng lượng quyến rũ của mình vào một biên tập viên cấp cao tên là Dean, họ đều gọi là DeeAnn (bản gốc: “So far, he had concentrated most of his seductive energies on a senior editor named Dean, whom they all called DeeAnn.”). Họ đã đến một bữa tiệc, cả ba người, được tổ chức tại căn hộ của cha mẹ một biên tập viên cấp thấp ở Dakota, nơi mà phòng treo tranh này cứ nối tiếp phòng treo tranh khác (bản gốc: “in which art-hung room bled into art hung room”). Khi JB nói chuyện với đồng nghiệp của mình trong bếp, Malcolm và Willem đã đi thăm quan căn hộ cùng nhau (Jude đã ở đâu đêm đó ư? Đi làm, chắc vậy), ngắm một loạt các bức ảnh của Edward Burtynsky treo trong phòng khách, một bộ sưu tập các tháp nước của Bechers được gắn vào bốn trên năm hàng trên bàn trong phòng làm việc, một bức ảnh khổng lồ của Gursky lơ lửng trên những tủ sách trong thư viện, và trong phòng ngủ chính, một bức tường đầy các bức ảnh của Diane Arbus, bao phủ toàn bộ không gian, chỉ còn lại vài centimet mặt tường ở phía trên và phía dưới là còn trống. Họ đang cảm thán một bức ảnh của hai cô gái bị hội chứng Down có khuôn mặt ngọt ngào đang chơi trước máy ảnh trong những bộ đồ tắm quá chật và trẻ con, trong khi Dean tiếp cận họ. Anh ta là một người đàn ông cao lớn, nhưng có một khuôn mặt nhỏ, giống chuột chũi, đầy sẹo mụn, khiến anh ta trông hoang dã và không đáng tin cậy.

Họ tự giới thiệu bản thân, giải thích tại sao họ ở đây là vì họ với JB là bạn. Dean nói rằng anh ta là một trong những biên tập viên cấp cao của tạp chí đó, và rằng anh ta cũng là người chịu trách nhiệm cho toàn bộ phần nghệ thuật của trang bìa.
“À,” Willem cảm thán, cẩn thận để không nhìn qua Malcolm, người mà cậu không hề tin tưởng là sẽ không phản ứng gì cả. JB đã kể với họ là cậu ta đã nhắm vào biên tập viên nghệ thuật có tiềm năng này, và đây chắc hẳn là người đó.
“Các cậu đã bao giờ thấy thứ gì như thế này chưa?” Dean hỏi họ, vẫy tay về phía những bức ảnh của Arbus.
“Chưa từng,” Willem nói. “Tôi yêu Diane Arbus.”
Dean cứng đờ, và những đường nét trên khuôn mặt cậu ta dường như đang nhăn lại, tụ thành một nút thắt ở chính giữa khuôn mặt nhỏ nhắn của cậu. “Đó là DeeAnn.”
“Cái gì cơ?”
“DeeAnn. Mày vừa nói tên cô ấy là ‘DeeAnn’ đấy.”
Họ hầu hết không thể bước ra khỏi căn phòng mà không cười. “DeeAnn á!” JB nói sau đó, khi họ kể cho cậu ta về chuyện vừa rồi. “Ôi chúa ơi! Thật là một tên khốn tự phụ.”
“Nhưng đấy là tên khốn tự phụ của mày mà,” Jude lên tiếng. Và kể từ đó, họ luôn gọi Dean là “DeeAnn.”
Tuy nhiên, không may sau đó, mặc dù đã cố gắng không biết mệt mỏi vào DeeAnn, JB dường như vẫn không thể tiến thêm một bước nào tới gần hơn đến tạp chí so với ba tháng trước đây. JB thậm chí còn để cho DeeAnn th.ổi kèn trong phòng xông hơi ở chỗ tập gym, và cuối cùng vẫn chẳng có tác dụng gì. Mỗi ngày, JB đều tìm một lí do để đi qua đi lại chỗ văn phòng biên tập và lang thang quanh bảng thông báo các ý tưởng của ba tháng tới được viết trên những tấm thẻ màu trắng, và hằng ngày cậu ta đều nhìn vào mục những nghệ sĩ sẽ góp mặt vào kế hoạch sắp tới để tìm tên của mình, cuối cùng chẳng tìm thấy gì ngoài sự thất vọng. Thay vào đó, cậu ta lại thấy những cái tên bất tài và được thổi phồng, những cái tên nhờ vả cùng với những cái tên quen biết những người đi nhờ vả.
“Nếu tao mà nhìn thấy tên Ezra trên đó, tao sẽ t.ự t.ử luôn mất,” JB lúc nào cũng nói vậy với người khác và họ đều nói rằng: Sẽ không đâu JB, Đừng lo JB, Mày sẽ thấy tên mình trên bảng một ngày nào đó thôi, Mày đâu cần cái đó đến thế phải không JB? Mày sẽ tìm được một nơi khác thôi, và rồi JB sẽ trả lời, lần lượt, “Mày chắc không?,” và “Tao đ*o tin,” và “C** m* n* tao đã dồn hết tất cả vào lần này—ba c** m* n* tháng của cuộc đời tao—tên tao phải ở trên đó chứ đ** m*, toàn bộ những thứ này đều là đồ bỏ đi à, như mọi thứ chết tiệt khác vậy,” mọi thứ khác ở đây nghĩa là, một vài chuyện khác nhau như tốt nghiệp, chuyển về New York, chuỗi những tác phẩm từ tóc, hay cuộc sống nói chung, đều tùy thuộc vào tâm trạng vô định của cậu ta ngày hôm đó (bản gốc: “depending on how nihilistic he felt that day”)

Cậu ta vẫn còn đang phàn nàn khi họ đến Lispenard. Willem vẫn còn mới mẻ với thành phố—cậu mới chỉ sống ở đó một năm—chưa bao giờ nghe nói về con đường này, chỉ hơn con hẻm một chút, dài hai dãy nhà và một dãy về phía nam Canal, vậy mà JB, người đã lớn lên ở Brooklyn, cũng chưa từng nghe nói về nó.
Họ tìm thấy tòa nhà và bấm chuông 5C. Một cô gái trả lời, giọng của cô ấy nghe hơi khàn và bị vọng lại do hệ thống liên lạc, và rồi cho gọi họ vào. Bên trong, tiền sảnh hẹp, trần cao, và được sơn màu nâu bóng loáng, khiến họ cảm giác như đang ở đáy giếng.
Cô gái đang đứng chờ họ ở cửa căn hộ. “Chào JB,” cô ấy nói, sau đó nhìn sang Willem và đỏ mặt.
“Annika, đây là bạn tôi Willem,” JB nói. “Willem, Annika làm việc bên bộ phận nghệ thuật. Cô ấy ngầu lắm.”
Annika nhìn xuống và đưa ra tay ra. “Rất vui được gặp anh,” cô ấy vẫn cúi xuống, nói với sàn nhà. JB đá vào chân Willem và cười với cậu. Willem không thèm để ý điều đó.
“Rất vui được gặp cô nhé,” Willem đáp lại.

“Ờm, đây chính là căn hộ? Của dì tôi? Bà ấy đã sống ở đây năm mươi năm nhưng vừa rồi bà đã chuyển vào nhà dưỡng lão?” Annika nói rất nhanh và rõ ràng cô ấy đã quyết định rằng cách tốt nhất là xem Willem như nguyệt thực và chỉ đơn giản là không nhìn vào cậu ấy. Cô ấy nói càng lúc càng nhanh, về dì của mình, về cách bà ấy luôn nói rằng khu phố đã thay đổi, và cách cô ấy chưa bao giờ nghe nói về đường Lispenard cho đến khi cô ấy chuyển xuống khu trung tâm, rồi cô ấy xin lỗi vì căn hộ chưa được sơn, nhưng dì của cô ấy, theo nghĩa đen là vừa mới chuyển đi và họ chỉ có cơ hội để dọn dẹp nó vào cuối tuần trước. Cô ấy nhìn mọi nơi ngoại trừ Willem—vào trần nhà (làm từ thiếc dập), sàn nhà (bị nứt, nhưng là sàn gỗ ghép), vào tường (nơi các khung hình đã treo từ lâu đã để lại những vết ố loang lổ)—cho đến khi cuối cùng Willem buộc phải lên tiếng, một cách nhẹ nhàng, và hỏi liệu anh có thể tự xem qua phần còn lại của căn hộ không.
“Ồ, cứ tự nhiên,” Annika nói, “Tôi sẽ để anh một mình,” mặc dù sau đó cô ấy bắt đầu đi theo họ, nói chuyện với JB về một người tên Jasper và cách anh ấy đã sử dụng Archer cho mọi thứ như thế nào, và chẳng phải JB nghĩ rằng nó trông hơi tròn và kỳ quặc đối với văn bản chính không? (bản gốc: “and didn’t JB think it looked a little too round and weird for body text?”) Bây giờ khi Willem đã quay lưng về phía cô, Annika đã có thể nhìn cậu một cách thoải mái hơn, càng nói, những lời nói lan man của cô càng trở nên vô nghĩa.

JB nhìn Annika quan sát Willem. Cậu chưa bao giờ thấy cô ấy như thế này, hồi hộp, lo lắng, và nữ tính nữa (bình thường cô ấy rất cáu kỉnh và im lặng, thực sự không khí trong văn phòng có chút sợ hãi vì cô đã tạo ra trên bức tường phía trên bàn làm việc của mình một tác phẩm điêu khắc tinh xảo về một trái tim được làm hoàn toàn từ các lưỡi dao X-ACTO), nhưng cậu ta đã thấy rất nhiều người phụ nữ hành xử theo cách này xung quanh Willem. Tất cả họ đều như thế. Người bạn Lionel của họ còn từng nói rằng kiếp trước hẳn Willem đã là một ngư dân, vì cậu ta không thể nào không thu hút phái nữ. Và tuy nhiên, hầu hết thời gian (mặc dù không phải lúc nào cũng vậy), Willem dường như không nhận thức được về sự chú ý đó. JB từng hỏi Malcolm tại sao cậu lại nghĩ như vậy, và Malcolm trả lời rằng cậu nghĩ đó là vì Willem không nhận ra điều đó. JB chỉ trả lời cụt lủn như vậy, nhưng trong suy nghĩ của cậu: Malcolm là người chậm hiểu nhất mà cậu biết, và nếu ngay cả Malcolm cũng nhận ra cách phụ nữ phản ứng xung quanh Willem, thì không thể nào chính Willem lại không nhận ra được. Tuy nhiên, sau đó, Jude đã giải thích theo một cách khác: ý của cậu là Willem đã cố tình không phản ứng với tất cả những người phụ nữ để những người đàn ông khác xung quanh không cảm thấy bị đe dọa bởi cậu ta. Điều này nghe có lý hơn; Willem luôn được mọi người quý mến và không bao giờ muốn cố ý làm cho người khác cảm thấy không thoải mái, và vì vậy, ít nhất là ở mức còn nhận thức được (bản gốc: “subconsciously at least”), cậu ta có thể đang giả vờ ngờ nghệc một chút. Suy cho cùng thì—được chứng kiến chuyện đó khá là hay ho, và ba người họ không bao giờ mệt mỏi vì nó, cũng như chẳng bao giờ chế giễu Willem sau đó, dù cậu thường chỉ cười mỉm và không nói gì.

“Thang máy ở đây hoạt động tốt chứ?” Willem quay lại, bất ngờ hỏi.
“Gì cơ?” Annika giật mình đáp lại. “Có, nó vẫn khá đáng tin đấy.” Đôi môi nhợt nhạt của cô kéo lại thành một nụ cười hẹp, và JB nhận ra điều đó, bụng cô quặn lên vì xấu hổ, nụ cười kia là có ý tán tỉnh (bản gốc: “She pulled her faint lips into a narrow smile that JB realized, with a stomach-twist of embarrassment for her, was meant to be flirtatious”). Ôi, Annika, cậu cảm thán. “Vậy chính xác là anh đang định mang gì vào căn hộ?”
“Bạn của chúng tôi,” cậu đáp lại, trước khi Willem kịp nói. “Anh ấy gặp khó khăn khi leo cầu thang nên cần thang máy hoạt động.”
“Ồ,” cô nói, đỏ mặt lần nữa. Và rồi lại nhìn xuống sàn. “Xin lỗi. Vâng, nó vẫn hoạt động.”
Căn hộ không ấn tượng lắm. Có một hành lang nhỏ, lối đi chỉ to hơn chiếc thảm chùi chân một chút, từ đó chia ra bên phải là bếp (một căn phòng nhỏ nóng và dính đầy dầu mỡ) và khu vực ăn bên trái có thể để được một chiếc bàn bài. Một bức tường cao nửa ngắn cách không gian này với phòng khách có bốn cửa sổ, mỗi cửa sổ đều có song sắt, nhìn ra phía nam là khu phố đầy những rác, và dọc theo hành lang ngắn bên phải là phòng tắm với những chiếc đèn treo tường bằng thủy tinh màu sữa và bồn tắm tráng men đã cũ, đối diện với nó là phòng ngủ có cửa sổ, sâu nhưng hẹp; tại đây, hai khung giường đơn bằng gỗ đã được đặt song song với nhau, mỗi chiếc đều sát bức tường. Một trong hai đã được trải tấm futon, một thứ cồng kềnh, xấu xí, và nặng như một con ngựa chết.

“Tấm futon đó chưa được dùng bao giờ,” Annika nói. Cô ấy kể một câu chuyện dài về việc sẽ chuyển tới căn hộ, và thậm chí đã mua tấm futon để chuẩn bị cho điều đó, nhưng chưa bao giờ có cơ hội sử dụng nó vì cô chuyển sang ở với Clement, một người bạn, không phải là bạn trai của cô ấy, chỉ là bạn thôi, và trời ạ, cô ấy thật ngốc khi nói điều đó. Dù sao thì, nếu Willem muốn thuê căn hộ, cô ấy sẽ tặng họ tấm futon.
Willem nói cảm ơn. “Mày nghĩ sao JB?” cậu hỏi.
Cậu ta nghĩ gì ư? Trong suy nghĩ của cậu, đây là một nơi tồi tệ (bản gốc: “He thought it was a sh*thole”). Dĩ nhiên, cậu cũng sống ở cái nơi chết tiệt đó, nhưng là do cậu quyết dịnh, và là vì nó miễn phí, số tiền cậu ta dáng lẽ ra phải chi trả cho việc thuê nhà thì thay vào đó có thể dùng vào việc mua sơn, đồ dùng hàng ngày, m.a t.ú.y, và thỉnh thoảng đi taxi. Nhưng nếu Ezra quyết định thu tiền thuê nhà, cậu ta sẽ chẳng ở đó nữa. Gia đình cậu có thể không cần tiền của Ezra, hoặc của Malcolm, nhưng không đời nào họ chấp nhận để JB ném tiền vào một nơi tồi tệ như thế. Họ sẽ tìm cho cậu một chỗ tốt hơn, hoặc trợ giúp cho cậu một khoản nhỏ hàng tháng. Còn Willem và Jude không có sự lựa chọn: Họ phải tự chi trả cho mình, họ không có tiền, và do đó họ buộc phải sống ở cái chỗ chết tiệt đó. Và nếu vậy, thì đây có lẽ là cái chỗ chết tiệt để họ sống—bởi nó rẻ, lại ở trung tâm thành phố, và người có thể sẽ trở thành chủ nhà thì đã phải lòng với năm mươi phần trăm trong số họ.
“Tao nghĩ nó hoàn hảo đấy,” cậu ta nói với Willem, người đã đồng ý. Annika kêu lên một tiếng. Và sau cuộc trò chuyện vội vã, mọi thứ đã kết thúc: Annika giờ có một người thuê nhà, Willem và Jude có chỗ trú chân - trước khi JB nhắc Willem rằng cậu không phiền nếu Willem trả tiền cho bát mì vào bữa trưa, trước khi cậu ta phải trở về văn phòng.

A LITTLE LIFE – Một cuộc đời nhỏ bé (Hanya Yanagihara) Bản dịch tiếng Việt bởi: Chuột (là tui nè 🥹)Phần I: Phố Lispernar...
17/01/2024

A LITTLE LIFE – Một cuộc đời nhỏ bé (Hanya Yanagihara)
Bản dịch tiếng Việt bởi: Chuột (là tui nè 🥹)


Phần I: Phố Lispernard (Chương 1a)
1. CĂN HỘ Ở ELEVENTH chỉ có duy nhất một chiếc tủ quần áo, nhưng nó thực sự có một chiếc cửa kính mở lối dẫn đến một cái ban công nhỏ, từ đó cậu có thể nhìn thấy một người đàn ông đang ngồi ở phía bên kia lối đi, ở ngoài trời chỉ với độc một chiếc áo cộc và quần đùi mặc cho hiện đang là Tháng 10, đang hút thuốc. Willem giơ một tay chào người đàn ông, nhưng anh ta không chào lại.
Trong phòng ngủ, Jude đang kéo đi kéo lại cánh cửa tủ, cứ mở ra lại đóng vào, rồi Willem bước vào. “Chỉ có một cái tủ quần áo thôi,” cậu nói.
“Vậy là ổn rồi,” Willem đáp. “Tao cũng chẳng có gì để mà cất trong đó cả.”
“Ừ tao cũng thế.” Họ nhìn nhau, cười nhạt. Người môi giới căn hộ bước theo sau họ.
“Chúng tôi sẽ thuê căn này,” Jude nói.

Nhưng khi quay trở lại văn phòng, họ được thông báo rằng họ không thể thuê căn hộ đó. “Tại sao vậy?”, Jude hỏi.
“Các cậu không có đủ thu nhập để cọc trước 6 tháng tiền thuê nhà, và cũng không có bất kì khoản tiết kiệm nào hết”, người nhân viên trả lời một cách cộc lốc. Cô ấy đã kiểm tra lịch sử tín dụng và các tài khoản ngân hàng của họ rồi cuối cùng nhận ra rằng có gì đó mờ ám ở đây về hai cậu trai đang trong độ tuổi 20 này, chẳng phải một đôi nhưng lại muốn thuê một căn hộ một (giường) ngủ trên dọc con phố Twenty-fifth buồn tẻ (nhưng cũng đắt đỏ) này. “Các cậu có người bảo hộ không? Sếp hay là phụ huynh của các cậu ấy?”
“Ba mẹ chúng tôi mất cả rồi,” Willem trả lời ngay sau đó.
Người môi giới thở dài. “Vậy thì tôi nghĩ rằng các cậu nên hạ thấp kỳ vọng của mình xuống. Bởi không một tòa nhà đang được vận hành tốt nào sẽ cho những người với tình hình tài chính như hai cậu thuê cả.” Rồi cô ấy đứng dậy, thể hiện rằng cuộc trò chuyện của họ sẽ kết thúc tại đây, và nhìn thẳng về phía cửa.
Tuy nhiên, khi kể với JB và Malcom về chuyện vừa rồi, họ đã biến nó thành một vở hài kịch: sàn nhà đầy những vết phân chuột, người đàn ông ngồi phía bên kia lối đi suýt chút nữa thì vạch trần chính mình, người môi giới căn hộ kia thì tỏ ra khó chịu vì cô ấy đã tán tỉnh Willem mà cậu chàng chẳng mảy may phản ứng lại xíu nào.

“Ai mà muốn sống ở Twenty-fifth and Second cơ chứ,” JB nói. Họ đã đi ăn Phở Việt Hương ở Phố Người Hoa, nơi mà họ cùng nhau ăn tối hai lần một tháng. Phở Việt Hương cũng chẳng ngon đến vậy—nước phở ngọt vị đường một cách kỳ lạ, nước chanh thì có mùi như xà phòng, ít nhất một trong số họ đã nôn sau mỗi bữa ăn—nhưng rồi họ vẫn cứ tiếp tục quay lại đó, vì thói quen, và cũng vì cần nó nữa. Chỉ cần 5$ là sẽ có một bát phở hoặc một cái bánh mì sandwich ở Phở Việt Hương, hay một món khai vị từ 8$ đến 10$ với khẩu phần lớn hơn, và rồi có thể để dành một nửa cho ngày hôm sau hoặc cho bữa khuya tối đó. Chỉ có Malcom, người không bao giờ ăn hết phần của mình và cũng không bao giờ để dành phần thừa, khi không ăn nữa, cậu để đĩa của mình ra giữa bàn cho Willem và JB¬—những chiếc bụng luôn đói—ăn hết phần còn lại.
“Đương nhiên là tụi mình không muốn vào chỗ Twenty-fifth and Second rồi JB,” Willem đáp lời một cách nhẫn nại, “nhưng không còn sự lựa chọn nào khác cả. Mày quên là tụi mình không có tiền à?”
“Tao không hiểu nổi, tại sao mình không cứ ở yên vậy đi chứ,” Malcom lên tiếng, người mà đang khuấy nấm và đậu phụ—cậu luôn gọi một món duy nhất: nấm sò và đậu phụ kho đẫm sốt—trong đĩa của cậu ấy, trong khi Willem và JB nhìm chằm chằm vào nó.
“Thì, tao đâu thể làm gì khác,” Willem nói. “Nhớ chứ?” Cậu đã giải thích cho Malcom hàng tá lần trong ba tháng vừa qua rồi. “Bạn trai của Meritt sắp chuyển vào nên tao phải dọn đi thôi.”
“Nhưng mà tại sao mày lại phải chuyển?”
“Bởi vì Merritt đứng tên trên hợp đồng thuê nhà Malcom ạ!”, LB thốt lên.
“À,” Malcom nói. Rồi lại im lặng. Cậu thường quên những chi tiết mà cậu cho là vụn vặt, nhưng rồi cũng chẳng bao giờ để ý về chuyện những người khác trở nên thiếu kiên nhẫn với việc cậu cứ suốt ngày quên như thế. “Ừ nhỉ.” Cậu để đĩa nấm ra giữa bàn. “Nhưng mà Jude à, mày—”
“Tao không thể nào ở nhà mày mãi được hiểu không Malcom. Bố mẹ mày chắc sẽ giết tao mất.”
“Bố mẹ tao quý mày mà.”
“Nghe tuyệt đấy. Nhưng họ sẽ không còn như vậy nữa đâu nếu tao không chuyển ra sớm.”
Malcom là đứa duy nhất trong cả bọn sống ở nhà, và như JB thường hay nói, nếu có nhà như của Malcom, cậu ta cũng sẽ sống ở nhà giống vậy. Nhà của Malcolm không phải là quá lộng lẫy— mà thực ra nó rất cũ và bẩn, và Willem từng bị một mảnh gỗ nhọn đâm vào chỉ vì lướt tay trên lan can cầu thang—nhưng nó rất rộng: một ngôi nhà thị trấn thực sự ở Upper East Side. Chị của Malcom, Flora, lớn hơn cậu ta 3 tuổi, mới chuyển ra khỏi căn hộ tầng hầm, và Jude đã chuyển đến nơi đó như một giải pháp ngắn hạn: Cuối cùng, bố mẹ của Malcom muốn lấy lại nơi đó để chuyển nó thành văn phòng cho công ty đại diện văn học của mẹ cậu ấy, nghĩa là Jude (người đang chật vật bước xuống lối cầu thang dẫn tới căn hộ đó) phải tìm một nơi ở mới.
Và chẳng có gì là lạ khi cậu ta sẽ sống cùng với Willem; họ đã là bạn cùng phòng trong suốt những năm tháng đại học. Trong năm học đầu tiên, bốn người họ đã ở cùng nhau trong một căn phòng với những bức tường bê tông, có bàn, có ghế và một chiếc sofa mà các cô dì của JB đã chở lên bằng chiếc U-Haul, và căn phòng thứ hai, nhỏ hơn, nơi đặt hai bộ giường tầng. Căn phòng quá nhỏ, đến nỗi mà Malcom và Jude khi nằm ở tầng dưới của chiếc giường, có thể giơ tay ra và nắm lấy nhau. Malcom và JB chung một giường, Jude và Willem chung chiếc còn lại.

“Da đen đấu với da trắng nè,” JB nói.
“Jude có phải da trắng đâu,” Willem trả lời.
“Và tao không phải da đen,” Malcom thêm vào, để chọc ngoáy JB hơn là vì cậu ta tin vào điều đó.
“Thì,” JB tiếp tục, trong lúc kéo đĩa nấm về phía mình bằng cái đầu nĩa, “Tao chỉ nói là cả hai tụi mày có thể ở cùng với tao, nhưng tao nghĩ tụi mày sẽ đ** thích tí nào.” JB sống trong một căn phòng trên tầng thượng rộng lớn và bẩn thỉu ở Little Italy, nơi có đầy những hành lang kỳ quặc dẫn đến những ngõ cụt với hình dáng kỳ lạ, bị bỏ hoang và những căn phòng xây dở dang, những tấm vách Sheetrock bị bỏ dở giữa chừng, căn phòng thuộc về một người bạn mà họ quen từ thời đại học. Ezra là một họa sĩ, một họa sĩ tồi, nhưng anh ta chẳng cần thiết phải giỏi bởi vì, như JB luôn gợi cho họ nhớ rằng, anh ta sẽ chẳng bao giờ phải làm việc suốt cả cuộc đời này đâu. Và không chỉ có mình anh ta, mà đến cả chắt của anh ta cũng sẽ không bao giờ phải làm việc hết: Chúng có thể tạo ra những tác phẩm tồi tệ, vô giá trị và chẳng ai thèm mua cho những thế hệ sau này mà vẫn có thể chi trả tùy ý những loại dầu tốt nhất mà chúng muốn, và cả những căn phòng trên tầng thượng to tới mức vô lý ở trung tâm thành phố Manhattan nơi chúng chất đầy những quyết định kiến trúc tồi tệ của mình, và khi chúng đã chán ngấy với cuộc sống của một họa sĩ—như JB đã từng thuyết phục Ezra rằng rồi ngày nào đó anh ta cũng sẽ như vậy thôi—tất cả những gì chúng cần làm chỉ là gọi cho những người quản lý tài sản và nhận một cục tiền lớn mà cả bốn người họ (à, chắc không có Malcom đâu) không bao giờ dám mơ tới trong cuộc đời mình. Tuy nhiên, trong lúc đó, Ezra là một người quen hữu ích, không phải chỉ vì anh ta cho phép JB và một vài người bạn khác ở trường đến căn hộ—bất cứ lúc nào, có khoảng bốn tới năm người đang vùi mình trong các góc phòng—mà bởi vì anh ta là một người tốt và về cơ bản là hào phóng, thích tổ chức những bữa tiệc xa hoa vô nghĩa với đầy ắp những đồ ăn, đồ uống, thuốc phiện và rượu luôn sẵn có.
“Từ từ đã,” JB lên tiếng, buông đôi đũa đang cầm trong tay. “Tao vừa nhớ ra là—có ai đó chỗ văn phòng tạp chí đang cho thuê nhà hộ dì của cô ấy. Hình như là, ngay sát Phố Người Hoa.”
“Bao nhiêu tiền thế?” Willem hỏi.
“Chắc là cho ở không í—cô ấy cũng không biết phải đòi bao nhiêu. Và cô ấy muốn người quen ở đó.”
“Nói tốt về tao với cô ấy nhé?”
“Còn hơn thế ấy chứ—tao sẽ giới thiệu mày cho. Ngày mai mày tới văn phòng luôn nhé?”
Jude thở dài. “Tao không rời việc được.” Rồi nhìn sang Willem.
“Không phải lo đâu—Tao đi cho. Mấy giờ?”
“Tầm bữa trưa, tao đoán thế. Một giờ nhé?”
“Được. Tao sẽ đến.”
Willem vẫn còn đói, nhưng cậu để JB ăn hết phần nấm còn lại. Sau đó họ nghỉ một chút; đôi khi Malcom sẽ gọi kem mít, món duy nhất lúc nào cũng ổn trên thực đơn, cắn hai miếng rồi dừng, sau đó cậu cùng JB ăn hết phần còn lại. Nhưng lần này cậu ấy không gọi kem, nên họ yêu cầu hóa đơn và tính tiền để có thể nghiên cứu và chia hóa đơn sau đó.

Chuyện là dạo này tui thấy tiktok hot quyển này quá mà chưa có bản dịch Việt. Có ai hứng thú khum thì để tui thử sức nè....
17/01/2024

Chuyện là dạo này tui thấy tiktok hot quyển này quá mà chưa có bản dịch Việt. Có ai hứng thú khum thì để tui thử sức nè. Bản dịch đăng ở đây lun 🥹 Tui dân nghiệp dư làm cho vui thôi chứ không vì cái gì khác đâu á

30/01/2023

I thought this page was dead
Just like me :)))))

Address

Đường Đại Cồ Việt
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chuột posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share