05/18/2026
𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃 #67
ÁC THẦN 1 - CẬU BÉ BÊN GÒ MẢ
[Lấy cảm hứng từ những câu chuyện từng được truyền miệng, nội dung đã được hư cấu và tái hiện lại cho mục đích giải trí]
Một ngày nắng oi ả ở Hà Nội, con nắng tháng năm chỉ khiến người ta đổ ra ngoài đường, kiếm một quán bia hơi làm vài cốc giải khát. Tôi vừa chiêm niệm xong về cái nắng vừa uống lấy một hơi dài mát lạnh rồi đặt ly xuống,nhìn vào người đối diện.
Đó là Hữu, một chú em nhà báo tự do, tôi hẹn chú ấy tới đây vừa để cảm ơn vừa để thuật lại câu chuyện liên quan đến việc mà tôi đã nhờ chú ấy giúp đỡ.
“Nếu anh đã sẵn sàng rồi thì em cũng bật thu âm giờ nhé” Hữu vừa lau mồ hôi vừa nói.
Tôi biết Hữu cũng nôn nóng, mấy năm nay chú ấy toàn vướng vào những vụ điều tra mang tính tâm linh, đăng hội thảo thì chẳng ai cho, mà đăng bài mạng thì chẳng mấy người đọc. Tôi cật lực khuyên chú ấy nên xuất bản sách đi cũng được. Vì thú thật cái vụ chú ấy viết về cô gái ở Ba Chúc còn khiến tôi rùng mình tới giờ, vừa sợ vừa thương.
“Anh kể nhé” tôi sửa soạn lại tư thế ngồi, Hữu đã lại cầm ly bia, cụng một cái, thêm một hơi bia dài nữa…tôi lại nhớ về cậu bé ấy.
“Trước hết anh phải cảm ơn chú và thầy Huỳnh, nhờ hai người mà anh mới cất gọn nỗi lòng này. Anh già rồi sống ch/ết chẳng biết ngày nào, chỉ sợ khi nhắm mắt anh lại thấy họ lần nữa thì thật không ổn.
Đôi tháng trước anh có nhờ chú điều tra tung tích của một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, cỡ chú bây giờ. Anh ta có một vết bớt đen nửa mặt chú còn nhớ chứ.”
“Dạ vâng! Lúc đó em phải nhờ mấy anh bạn quen làm dưới Hiếu Liêm, Sông Mây tìm mãi, anh ta là một người tâm thần không có người thân, chỉ sống nhờ đồ bố thí đôi khi còn nhặt cá ch/ết để ăn nữa.” Hữu tóm tắt nhanh.
“Đúng rồi, nhưng nếu anh nói với chú là vì anh mà cậu ta bị như vậy, chú có tin không?”
“Anh nói thật sao?” Hữu hỏi với một đôi mắt hiếu kì và có phần lo lắng.
“Anh nghĩ là vậy, đấy là lí do vì sao hơn ba bốn chục năm nay anh không ngủ ngon được, tự lòng anh vẫn còn áy náy” Tôi trả lời, và dám chắc chú ấy cũng muốn nghe ngọn nguồn câu chuyện lắm rồi.
“Chuyện cách đây hơn bốn mươi năm, lúc đó anh mới hai mươi bảy tuổi vừa tốt nghiệp kỹ sư bên Liên Xô. Lúc đó lẽ ra anh còn học tiếp, nhưng nhà nước kêu gọi về để phục vụ công cuộc tái thiết sau chiến tranh, mà hồi đó anh oai lắm, anh về cùng đoàn với các chuyên gia Liên Xô để trực tiếp tham gia xây dựng đập thủy điện Trị An, công trình đó ý nghĩa vô cùng.
Nhưng mà cái giai đoạn ấy cũng loạn, khoảng năm tám ba, tám tư chỉ mới mười năm sau thống nhất, dân cư ở đấy thì đa số là dân kinh tế mới, rồi dân bản cư và cả người của chế độ cũ nữa họ cứ sống chung với nhau thành các làng ngay dưới lòng hồ bây giờ.
Mà cái việc khó đầu tiên của anh là đi tuyên truyền để di dời mười chín ngàn dân sang vị trí mới, chú biết đấy, họ ở lòng hồ này cả chục năm nhiều nghĩa trang còn mới, nhất là vừa chiến tranh xong, giờ lại thuyết phục bà con đào lên dời đi, khó khăn vô cùng. Ở đó lại còn nhiều mộ vô danh, tụi anh phải tự tay đào. Hồi đó chỉ có thắp nhang khấn vài câu rồi đào thôi.
Cũng vì thế mà hồi đó trong các lán trại công nhân người ta kể nhau đủ thứ câu rùng rợn, cứ nhậu vào là thay phiên nhau kể, chẳng nói chuyện gì khác được.
“Thế anh có gặp gì không?” Hữu hỏi tò mò. Tôi cười nhẹ rồi kể tiếp.
“Lúc đó thì chưa, nhưng anh nhớ buổi sáng hôm đó, anh đi đo đạc vẽ bản đồ diện tích với các đồng chí, mới có năm giờ sáng thôi. Tụi anh đi trên con đường mòn dẫn qua một cánh rừng, vừa ra khỏi rừng anh chợt thấy một đứa bé đang đứng bên một cái gò đất, anh nghi là cái mả nhưng mà nó cũ lắm rồi, cỏ mọc um tùm lại không có tên tuổi gì cả.
Anh hỏi mấy đồng chí ở đây thì họ cũng chịu, thì bởi ông nào cũng mới từ miền Bắc vào thì ai mà biết được.”
“Thế rồi anh có thấy cái gì lạ lùng không?” Hữu hỏi thẳng dường như đã quá quen với những chuyện kì lạ.
“Không, ban đầu thì anh kệ. Chắc là con cái ai ra ruộng chơi thôi. Nhưng mà sau đó liên tiếp trong bảy ngày, ngày nào tụi anh cũng gặp nó, đứng một chỗ mắt nhìn anh chằm chằm, đến nỗi vài đồng chí phải di chuyển bằng con đường khác vì sợ thấy thằng nhỏ” Tôi nói.
“còn anh thì sao?” Hữu nâng cốc với tôi.
“Anh chẳng sợ, hôm đó anh nán lại đi thẳng tới cái gò hỏi thăm thằng nhóc để tiện bề giúp đỡ, nhưng mà chú biết không? Vừa bước xuống ruộng là anh ăn ngay một cục đá chọi vào đầu”
“Gì cơ” Hữu tròn mắt.
“Đúng rồi đấy, nguyên cục đá vào thẳng đầu chảy máu, anh vừa ngước lên là thằng nhóc biến mất vào bụi cây rồi nó nhanh lắm.
Nhưng mà anh đâu có nản, anh đoán có lẽ nhóc này là con của một người thuộc chế độ cũ hoặc thế nào đó nên nó sợ với chống đối, nhưng mà anh tội nghiệp. Qua hôm sau anh dẫn thêm hai đồng chí ban y tế và một đồng chí dân quân xuống xem sao, nhưng đặc biệt hôm đó chẳng thấy thằng nhóc đó đâu nữa.
Bẵng đi khoảng một tháng sau, lúc này sắp mùa mưa dân cư đã di tản nhiều đợt rồi, còn hơn hai tuần nữa là sẽ tích nước vào lòng hồ. Lúc đó anh cứ nghĩ là thằng nhóc chắc cũng đi di tản rồi nên cũng sắp quên cho đến khi anh bắt gặp nó ven một hồ nước nhỏ.
Chú biết anh thấy nó như thế nào không? Lúc đó nó tơi tả, quần áo rách như bị ai xé, nó gầy, xanh xao g/hẻ lở từng mảng như mấy cái x/ác anh đào lên vậy. Đã thế lúc đó nó còn cầm con cá trê ăn sống miệng nó đầy m/áu tanh của cá, lẩm bẩm cái sự gì đó.
Vừa thấy anh là nó trừng mắt nhìn, nó vừa lùi lại vừa đuổi anh đi nhưng lời lẽ của nó không phải của một đứa con nít ít học thốt ra được”
“Nó nói gì vậy anh” Hữu hỏi ngay.
“Nó đọc hai câu đồng dao tự chế nhưng a vẫn ám ảnh tới giờ”
“Đào lên rồi lại lấp đi
Đất này đâu phải của mày, của mi”
Hữu chợt xoa hai tay không biết vì nổi da gà hay vì cảm thấy thú vị.
“Thằng nhóc lúc đó nói với anh bằng giọng ồm ồm như mới vỡ giọng, lúc đó trời chập tối, ánh mắt của nó đỏ sọc vô cùng đáng sợ, anh không định giải thích chính sách cho một thằng nhóc, “Anh không biết phải gọi nó là gì… nhưng anh không muốn để nó ở ngoài đó.”
Anh liền chạy ngay về trạm y tế, cử thêm hai cán bộ dân quân xuống khu hồ nước nhỏ, may mà nó còn ở đó. Anh thì sợ nhưng mấy anh dân quân đâu có sợ, họ xốc thằng bé lên xe chở về trạm y tế, nó vừa chống đối yếu ớt vừa gương đôi mắt nhìn anh chằm chằm.
Anh nghĩ như vậy là xong, thế mà đêm hôm đó lúc anh đang ngủ, thằng nhóc lại lang thang trong trại, nó vừa đi vừa đọc lại hai cái câu ám ảnh ấy, anh thấy lạ quá, trạm y tế… lẽ ra phải có người trực chứ.
Anh nghĩ thế nên đi theo nó xem nó muốn cái gì? Nhưng đi một đoạn lúc ngay gần trại chỉ huy thì anh mất dấu nó. Anh định quay lại trạm y tế để báo cáo thì nó chợt nghe cái câu đồng dao ấy ngay sau lưng. Anh quay lại nhìn, lúc này trông nó đáng sợ lắm, người băng bó khắp nơi, mắt đỏ rực, nó nói với anh bằng cái giọng đồng ca như của hàng chục người…chỉ nói đi nói lại hai câu đấy.
“Đào lên rồi lại lấp đi
Đất này đâu phải của mày, của mi”
Anh sợ quá té ngửa ra, nó liền lao tới xi/ết c/ổ anh, chặt lắm, cái tay của nó to một một cách bất thường.
“Mơ phải không” Hữu chen vào ngắt ngay đoạn cao trào, nhưng không phải kiểu hỏi khinh bỉ mà là kiểu hỏi của người từng trải.
“Ừ! Lúc đó anh mới tỉnh lại trong phòng ngủ, nhưng chú biết không? Cửa phòng anh lúc ấy cũng mở toang, còn có một mảnh vải y tế mắc ngay cửa nữa.
“Vậy là anh biết anh gặp phải điều gì rồi đấy?” Hữu nhận xét.
“Ừ, lúc tỉnh dậy anh ngồi mất một lúc mới dám cử động, lúc đó anh không biết phải cầu cạnh ai để thoát khỏi cái tình trạng này, anh chỉ là một kỹ sư cầu đường đang làm nhiệm vụ thôi, anh đã hại ai đâu?” Tôi phân trần như thể lập lại đúng cái suy nghĩ của tôi đêm đó.
“Sau đó anh làm gì” Hữu hỏi thêm kéo tôi ra khỏi dòng cảm xúc.
“Lúc đó anh sợ lắm, qua sáng hôm sau anh đi qua phòng y tế vẫn thấy nó ngồi đó, trông nó lúc này thật người hơn, anh nghĩ đêm qua chắc anh tưởng tượng thôi, nhưng các cô y tế thì nói với anh rằng, thằng bé này chắc bị vo/ng nhập rồi. Đêm qua nó tự nói chuyện một mình bằng một tá giọng khác nhau, cả đám không ai dám ngủ, ai cũng muốn bỏ chạy, nhưng sợ phạm quân lệnh nên thôi.
“Lúc đầu anh định chối, vì đâu phải trách nhiệm của anh. Nhưng mà anh cũng tội thằng nhỏ nên….” Tôi ngập ngừng.
“Anh tìm cách cứu đứa bé à” Hữu hỏi như thể đã đoán trước sự việc.
“Ừ, lúc đó anh quyết tìm cách để cứu đứa trẻ, anh đi quanh các làng, thời gian này họ cũng đào bới nhiều nghĩa trang nên các thầy về làm lễ cũng nhiều, sau đó anh gặp một ông thầy trẻ tuổi tên Huỳnh, ông ấy chỉ thoáng nhìn cậu bé đó là biết ngay phải làm gì nên ông nói cho ông hai hôm để sắm lễ rồi quay lại sau.
“Vậy là anh quen thầy Huỳnh từ hồi đó đến giờ luôn?” Hữu hỏi tôi.
“Đúng vậy” tôi vừa trả lời vừa nâng ly với chú Hữu.
“Buổi trục vo/ng hôm đó diễn ra vào lúc trời chập choạng, chú Hữu ạ. Mây kéo dày đặc như sắp đổ mưa, gió thì nổi lên từng cơn một. Hơn chục người dân đứng chen chúc ngoài hiên và sát vách, thì thầm, nín thở chờ đợi. Anh đã cố giữ kín lắm rồi… nhưng chú biết đấy, cái gì càng cấm thì người ta càng kéo tới.
Thằng bé được đặt ngồi trên một chiếc chiếu rách, hai tay buông thõng, đầu cúi gập như không còn sức sống, nhưng thỉnh thoảng cơ thể nó lại giật giật, Các y tá không dám khám thêm cho nó, và cũng do thiếu thuốc men nên họ cũng ngầm đồng ý làm lễ.
Bên ngoài mấy anh dân quân đã chuẩn bị sẵn một con heo cột trong rọ, để ngay bên một cái hố đào sẵn.
Thầy Huỳnh đứng trước mặt nó, tay cầm chuỗi hạt và một bó nhang, miệng lẩm nhẩm những câu chú. Còn anh… anh đứng bên cạnh, tay cầm tấm vải phép, lúc đó anh cũng sợ lắm.
“Đã quyết cứu mà còn sợ sao” Hữu chọc tôi.
“Có chứ, mà không hẳn vì sợ thằng nhóc mà còn do thầy Huỳnh bắt anh cầm khăn phép mà không nói thêm gì cả, Thầy đeo cho anh một lá bùa gì đó và chỉ yêu cầu xong lễ là quăng khăn đó vào cái lò thầy nhóm phía sau liền, cái gì biết thì anh không sợ, anh sợ cái anh không biết cơ.
Lúc đó thầy Huỳnh đọc chú mạnh hơn, thằng nhóc bổng bật thẳng người mắt nhó nhìn anh chằm chằm, từ miệng nó phát ra hàng chục âm thanh. Tiếng khóc, tiếng rên, tiếng gào, tiếng chửi rủa… chồng lên nhau như hàng chục cái cổ họng đang bị bóp nghẹt cùng lúc.
Anh nghe thấy giọng đàn bà khàn đặc gọi tên con, giọng đàn ông chửi rít qua kẽ răng, cả tiếng trẻ con khóc thét không thành lời… tất cả dồn qua cái thân x/ác bé nhỏ đó khiến nó cong người lại, hai tay co quắp, móng tay cào xuống chiếu đến bật cả sợi. Người đứng ngoài bắt đầu lùi lại, có người bịt miệng không dám nhúc nhích, nhưng cũng hiếu kì nán lại xem.
Đúng lúc đó, thầy Huỳnh quát lớn một tiếng, giọng ông cắt ngang tất cả. Ông vung mạnh bó nhang về phía con heo bị nhốt trong chiếc rọ tre ở ngoài, miệng đọc nhanh những câu chú mà anh không nghe kịp, rồi giật lấy tấm vải phép từ tay anh, quấn chặt qua người thằng bé.
Ngay lập tức, cơ thể nó giật mạnh một cái, đầu ngửa ra sau đến mức anh tưởng nó gãy cổ rồi, miệng há to nhưng không phát ra tiếng. Cùng lúc đó, con heo trong rọ bỗng rống lên một tiếng dài đến rợn người, thân nó đập vào nan tre loạn xạ, mắt trợn trắng, nước dãi sùi ra hai bên mép. Tiếng gào từ thằng bé tắt dần… rồi chuyển sang con heo.
Anh thề với chú, con heo lúc đó kêu loạn xạ, đủ thứ tiếng lộn xộn mà có khi anh còn nghe ra tiếng người.
Hai anh dân quân lập tức khiêng cái rọ lên, gần như không giữ nổi vì nó giãy quá mạnh, rồi theo hiệu lệnh của thầy, họ đẩy con heo xuống hố đã đào sẵn rồi lấp đất ngay. Từng xẻng đất nện xuống dồn dập… tiếng rống bị chôn nhỏ dần những vẫn còn nghe văng vẳng đâu đấy.
Còn bên trong…Thầy Huỳnh tiến lại gỡ chiếc khăn ra đặt lại vào tay anh một lần nữa. anh nhớ lúc đó thầy đá mắt về phía cái lò ngụ ý bảo anh đem đốt đi ngay ấy, nhưng mà khi đó thằng bé cũng đổ người sang một bên, bất động.
Anh chưa dám rời đi ngay trong khi thầy Huỳnh kiểm tra nó, tim anh đập dồn dập….cơ thể nó đang thay đổi. Da nó sạm đi rất nhanh, co rúm lại, những vết ghẻ lở nứt ra, mùi tanh nồng bốc lên như từ một cái x/ác lâu ngày bị đào lên. Từng mảng da b**g ra, lộ phần thịt thâm tím bên dưới…
Không ai nói gì trong vài giây. Rồi thầy Huỳnh hạ giọng, gần như chỉ đủ cho anh nghe:
“Nó ch/ết từ trước rồi… cái này chỉ là cái x/ác bị mượn thôi.”
Ngoài kia có mấy người phụ nữ bật khóc, tiếng nức nở lan ra. Anh nghe mà… cũng thấy nghẹn, nhưng lại không hiểu sao trong lòng mình vừa nhẹ đi, vừa trống rỗng.
Anh nghĩ là nghi thức chắc xong rồi, anh đặt tấm vải xuống cái ghế bên cạnh, rồi chen vào xem anh muốn coi xem thằng bé nó thế nào.
Tôi nói tới đó, chợt thấy mắt Hữu mở to, dường như chú ấy đã lờ mờ đoán ra cái gì đó.
“Anh không đốt tấm vải ngay lúc đó sao?” Hữu hỏi, còn tôi thì im lặng.
“Ừ, Và đúng lúc đó, giữa những tiếng bàn tán và khóc lóc, anh nghe một tiếng “á” phía sau. Anh quay ngoắt lại. Một đứa bé khác, khoảng mười tuổi, vừa vấp ngã ngay chỗ chiếc ghế, tay nó cầm tấm vải phép, mắt nó trợn ngược trắng dã, toàn thân như bị co rút lại.
Anh lao tới gần như bản năng, giật phắt tấm vải ra khỏi tay nó, không nói một lời, quay người chạy thẳng ra lò đất mà thầy đã dựng sẵn rồi ném vào. Lửa bùng lên rất nhanh, liếm lấy tấm vải, nó cháy đen lại rồi co rút… như một con rắn sống.
Khi anh quay lại, đứa bé kia đã được mẹ nó đỡ dậy, vẫn chỉ là một đứa trẻ bình thường. Không ai để ý thêm điều gì.
Sau buổi lễ, anh hỏi nhỏ thầy Huỳnh về tấm vải. Ông chỉ nói khẽ.
“Cái đó… mới là phần quan trọng. Trục vo/ng thì dễ… nhưng dẫn “cái kia” đi chỗ khác mới khó. Tôi không nói trước vì sẽ không ai dám cầm.”
Rồi ông hỏi anh:
“thế anh đã đốt chưa?”
Anh nhìn quanh, thấy mọi thứ đã trở lại bình thường, đứa bé kia cũng không có biểu hiện gì khác lạ… nên anh gật đầu:
“Đốt rồi.”
Anh không nói thêm gì về chuyện lúc nãy. Anh nghĩ… hoặc cố nghĩ… rằng mọi thứ đã kết thúc.
Bẵng đi khoảng một tuần sau, anh có nghe bên y tế báo có một cậu bé khác tự dung bị đỏ một bên mặt, họ hỏi nhỏ anh xem trông có giống bị vo/ng nhập nữa không, anh thật sự không dám trả lời vì anh nhận ra đó là đứa nhóc cầm vào tấm vải hôm bữa. Anh chỉ nói chắc là do bệnh gì nhiễm trùng thôi. Với lại cũng đang cao điểm, công việc nhiều nên anh càng dễ quên nó đi.
Nhưng đến đợt tản cư cuối cùng, lúc đó anh đang ngồi trên thùng xe ra khỏi lòng hồ thì anh thấy đứa bé hôm nọ, nó đi cùng mẹ nó ánh mắt của bà ấy cực kì lo lắng.
Vì một nửa khuôn mặt của thằng bé xuất hiện một vết bớt lớn màu đen thẫm.
Hữu ngồi im lặng, tôi cũng thế. Tôi cho rằng cậu ấy đang nghĩ về người đàn ông tâm thần với vết bớt đen mà tôi nhớ cậu ấy tìm kiếm giúp. Tôi nghĩ rằng Hữu ấy sẽ trách tôi như cái cách chú ấy lên án điều xấu xa trong những bài viết của mình.
“vậy chuyến đi vừa rồi anh có gặp được anh ta không?” Hữu hỏi tôi.
“Ừ, chú nhắc anh mới nhớ, anh mới về Trị An khoảng một tuần trước, giờ nước cạn anh còn có thể chỉ ra được mấy cái móng cũ ngày xưa nữa cơ, hoài niệm thật đấy chú, công trình tự hào mà…” Tôi nói mà dường như mất kiểm soát, cứ như đang lẫn tránh ánh mắt phán xét nào đó.
“Anh với thầy Huỳnh đã làm gì rồi?” Hữu ngồi thằng người, ánh mắt nghiêm nghị của nhà báo dường như đã đoán ra được gì đó. Tôi thở dài thú nhận.
“Thầy Huỳnh lúc biết chuyện thì giận anh lắm, bốn mươi năm nay anh dằn vặt mãi, đêm nào anh cũng mơ về bọn họ, về cậu bé mà anh đã bỏ rơi đó. Anh phải cầu xin thầy thì thầy mới theo anh về Trị An tìm gặp cậu bé ấy, lúc gặp lại anh sợ điếng người, vì tụi anh gặp cậu ta đang đi dưới lòng hồ cạn, tay vẫn cầm con cá sống vẫn nhìn anh như thể hồi đó”
Hữu thở dài “thế thầy Huỳnh có làm gì đó không?”
“Có”
Tôi đáp gọn, rồi kéo tay áo dài lên để cho Hữu thấy vết bớt màu đen thẫm kéo dài từ bắp tay xuống cổ tay.
Hữu mở to mắt, lùi hẳn về đằng sau như không thể tin vào câu chuyện lại có thể thực tế đến như vậy.
“Anh biết anh đã già rồi, cậu bé kia chỉ mới trung niên như chú bây giờ, hiện tại cậu ta đã ổn định sức khỏe có thể nhớ vài sự kiện khi xưa, còn anh thì cũng không có bao lâu nữa. Thầy Huỳnh đã cho anh đủ thứ có thể giữ anh yên giấc. Còn khi nào anh thác đi, nhờ Chú với thầy làm cho anh cái lễ cầu siêu, đem anh lên Chùa để anh đền tội”
Cả hai lại tiếp tục im lặng, trời Hà Nội vẫn cứ oi ả nhưng đã dịu đi rất nhiều, những gì xảy ra thì không thể cứu vãn được nữa nhưng có thế sửa đổi được chút nào, tôi cũng cố gắng sửa đổi nó.
“Cách”
Tiếng ly bi va chạm kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ, Hữu đã ngồi ngay ngắn lại cụng ly với tôi rồi khẽ nói.
“Được, em nhận lời”.
Vài hạt mưa rơi lác đác đầu mùa. Mưa nhiều rồi cũng sẽ nhấn chìm mấy móng nhà cũ dưới lòng hồ, nhưng lỗi lầm của tôi. Thì chắc chắn không thể chìm được.
-HÃI-
*Nội dung độc quyền bởi Creepypasta Việtnam – theo dõi kênh để không bỏ lỡ những câu chuyện mới nhất