Long Môn

Long Môn Toàn Chân Diễn Giáo Thiên Tôn

ĐỊA QUAN THÁNH ĐẢNNgày Rằm tháng Bảy Nông lịch, Đạo giáo quan niệm là dịp thánh đản của Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Đại...
27/08/2026

ĐỊA QUAN THÁNH ĐẢN

Ngày Rằm tháng Bảy Nông lịch, Đạo giáo quan niệm là dịp thánh đản của Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Đại Đế. Nhân dịp này, ta tìm hiểu sơ qua về kỳ Trung Nguyên và đồng thời dành thời gian cầu nguyện cho tất thảy người còn sống hay đã khuất, thân thiết hay xa lạ trên đời.

Lễ Trung Nguyên vốn có từ lâu đời, từ thuở Đạo giáo nhằm cuối đời Đông Hán đã xuất hiện những tập tục xoay quanh tiết này. Vào thời Đường, Trung Nguyên, Quỷ Nguyệt trở nên hưng thịnh, phổ biến hơn và được kế thừa cho đến ngày nay. Dịp này, Địa Quan Đại Đế rót ân điển, xá tội tồn vong lưỡng đồ. Dịp này, thần minh từ bi mà cứu nhất thiết tội, độ nhất thiết ách, lại cứu vong linh xuất ly trường dạ, đắc đổ quang minh. Dân gian lại hiệp lực, tổ chức tế tự thần linh, siêu độ cửu huyền thất tổ, thả hoa đăng, v.v…

Tháng Bảy lấy quẻ Thiên Địa Bĩ, khôn quái viên mãn, âm dương ly biệt. Địa Quan Đại Đế vào dịp này tập hội xem xét chúng sinh, căn cứ vào tội phúc ghi nơi bộ tịch mà xá tội miễn hình. Cũng vào dịp này, Thái Ất Cứu Khổ Tôn quảng khai hoành ân, đại xá địa ngục, cứu bạt u khổ. Vậy nên dịp này là một trong những lễ quan trọng của Đạo giáo. Trong Kinh Dịch, “Thất – số 7” là con số biến hóa, mang tính phục sinh. “Dịch Kinh” viết: “Phản phục kỳ đạo, thất nhật lai phục, thiên hành dã”. 7 là dương số, thiên số, thiên địa chi gian thời sau khi dương khí tuyệt diệt, trải qua bảy ngày có thể phục sinh, tức thiên địa vận hành chi đạo, âm dương tiêu trưởng chi lý. Số 7 còn mang nhiều màu sắc nhiệm lý, trên trời có Thất Tinh (Thất Tinh cao chiếu: Nhật, Nguyệt, Ngũ Hành Tinh). Con người có “thất tình” (7 loại tình chí cảm xúc), âm nhạc có “thất âm”, thi ca có “thất luật”, nhân thể có “thất khiếu”, v.v… “Thất-7” tức chu kỳ của nhân sinh sinh mệnh, bảy tuổi bắt đầu đến trường học tập, mười bốn tuổi dậy thì, hai mươi mốt tuổi trưởng thành về thể chất lẫn tinh thần.

Hôm nay, kính mong quý đạo hữu thành tâm xưng niệm Địa Quan bảo cáo, nguyện cầu tiền nhân tông tổ tảo đắc siêu sinh thượng giới, vĩnh ly tam đồ ngũ khổ. Cũng xin Thiên Tôn mở lượng hải hà, đạo chúng kiền thành sám hối, nguyện tội diệt phúc sinh.

Địa Quan bảo cáo: Chí tâm quy mệnh lễ: Thanh linh đỗng dương. Bắc đô cung trung. Bộ tứ thập nhị tào. Giai cửu thiên vạn chúng. Chủ quản tam giới thập phương cửu địa. Chưởng ác ngũ nhạc bát cực tứ duy. Thổ nạp âm dương. Hạch nam nữ thiện ác thanh hắc chi tịch. Từ dục thiên địa. Khảo chúng sinh lục tịch họa phúc chi danh. Pháp nguyên quảng đại nhi năng ly cửu u. Hạo kiếp thùy quang nhi năng tiêu vạn tội. Quần sinh phụ mẫu. Tồn một triêm ân. Đại bi đại nguyện. Đại thánh đại từ. Trung Nguyên Thất Khí Xá Tội Địa Quan. Đỗng Linh Thanh Hư Đại Đế Thanh Linh Đế Quân. Bình Đẳng Ứng Thiện Thiên Tôn

PHÙ LỤC TRONG KHOA NGHI TRAI TIẾUĐạo sĩ Chính Nhất lấy khoa nghi trai tiếu làm sở trường; phù lệnh phối hợp với khoa sự ...
26/08/2026

PHÙ LỤC TRONG KHOA NGHI TRAI TIẾU

Đạo sĩ Chính Nhất lấy khoa nghi trai tiếu làm sở trường; phù lệnh phối hợp với khoa sự một cách linh hoạt. Việc tu trai thiết tiếu, kiến lập đạo trường đều căn cứ theo pháp sự mà xác định phương vị. Trên đàn tràng, lấy thứ tự Hậu Thiên quái vị làm chuẩn; các quan điệp, hịch văn, phù lệnh khác nhau sẽ lựa chọn phương vị tương ứng để tuyên phát.

Đàn tràng được chia thành bốn hướng chính (Tứ chính) và bốn hướng phụ (Tứ ngung). Trong đó, Càn là Thiên môn (cửa trời), Khôn là Địa hộ (cửa đất), Tốn là Nhân môn (cửa người), Cấn là Quỷ lộ (đường quỷ). Cho nên khi hành khoa diễn pháp, pháp sư dẫn dắt chư đạo chúng ra vào cũng như diễn xướng các khoa nghi liên quan đều phải tuân theo tính chất của từng phương vị mà phân biệt sử dụng. Các quái vị như sau: Càn ở Tây Bắc, Khảm ở chính Bắc, Cấn ở Đông Bắc, Chấn ở hướng Đông, Tốn ở Đông Nam, Ly ở chính Nam, Khôn ở Tây Nam, Đoài ở hướng Tây.

Liên quan đến các phù lục trai tiếu cũng chia thành nhiều nhóm:
1. Khối Phát giam (Phát thư / Ấn niêm phong):
o Phù đốt khi triệu thần: Thanh minh phù, Tam thượng hương phù, Triệu công tào phù, Triệu thổ địa phù, Ngọc thanh tổng triệu phù, Triệu tam thiên thập thiên ngọc nữ phù, Triệu chư thiên ngọc nữ phù, Triệu thượng tấu linh quan phù, Triệu hách dịch tiên tào phù, Triệu vạn ty như ý phù, Triệu lưu kim hỏa linh tướng phù, Triệu thần tiêu tổng tướng phù, Triệu thống binh đại tướng phù, Triệu phát phóng đại tướng phù, Triệu khai thiên sứ giả phù, Triệu vận thần hội đạo công tào phù, Triệu linh bảo chư tướng tổng phù, Triệu lục đinh phù, Triệu lục giáp phù, Triệu thành hoàng phù, Triệu thượng giới phù sử phù, Triệu trung giới phù sử phù, Triệu hạ giới phù sử phù, Triệu tứ nghi công tào phù, Triệu tam giới lại binh tổng phù, Triệu lý xã phù.
o Phù dán trên bao bì các tấu trạng: Hộ tấu hỏa linh phù, Thông thiên phù, Triệt địa phù, Lôi hỏa thông chương phù, Phong hỏa phù, Thăng chân độ hỏa phù.
2. Khối Sắc thủy tịnh đàn (Sắc nước làm sạch đàn):
o Sắc đàn tịnh uế phù, Triệu tứ linh phù, Triệu tam nguyên tướng quân phù, Triệu ngũ đế binh mã phù, Triệu thần vương binh lại phù, Triệu bát phương uy thần phù, Triệu lục giáp phù, Triệu lục đinh phù, Thanh long thị vệ phù, Chu tước dương tinh phù, Bạch hổ vệ thủ phù, Huyền vũ hậu ủng phù, Đông phương binh mã phù, Nam phương binh mã phù, Tây phương binh mã phù, Bắc phương binh mã phù, Trung ương binh mã phù, Thần tiên binh mã phù, Thập động thiên binh mã phù, Tam thập lục động thiên phù, Thất thập nhị phúc địa phù, Ngũ nhạc binh mã phù, Cửu giang binh mã phù, Tứ hải binh mã phù, Phong đô binh mã phù, Cửu lũy binh mã phù, Xã lệnh binh mã phù, Thành hoàng binh mã phù, Linh bảo chư ty phù, Giám lâm cận thần phù, Giám lâm viễn thần phù.
3. Khối Phân đăng (Phân chia ánh sáng đèn):
o Phân đăng huệ quang phù, Ngọc thanh huệ quang phù, Thanh vi thiên phù, Vũ dư thiên phù, Đại xích thiên phù.
4. Khối Minh kim chấn ngọc (Khua chiêng gõ ngọc):
o Tịch phi tướng quân phù, Cấm đàn tướng quân phù, Dương thần cửu hòa phù, Âm thần thập hợp phù.
5. Khối Quyển liêm (Cuốn rèm):
o Hóa kim lầu ngọc thất phù, Hóa kim lầu ngọc điện phù, Quyển liêm phù.
6. Khối Triêu tu (Triều bái tu tập):
o Tịnh uế phù, Nhập đô môn phù, Nhập địa hộ phù, Nhập thiên môn phù, Triêu yết phù, Thập phương hương phù, Đạo đức hương phù, Siêu tam giới hương phù, An trấn chân văn phù, Nguyên hoàng giáng chân phù, Ngọc hư triệu linh phù, Chiêu chân linh phù, Giáng linh chân phù, Quỳ lô phù, Ngũ phương vệ linh phù, Cửu triêu vệ linh phù, Phát lô tổng phù, Phu lạc thần chân phù, Tam ngũ công tào phù, Tả hữu quan sứ giả phù, Trực nhật hương quan phù, Thổ địa phù, Tam niệm thượng hương phù, Mệnh ma phù, Thập bộ hư phù, Phục lô phù, Khuynh quang hồi giá phù, Xuất hộ phù.
7. Khối Chương biểu dùng trong đạo trường Thanh trai âm tiếu độ vong siêu thăng tiên giới:
o Mộc dục phù, Ngũ thần phù, Thái bình phù, Thông thần phù, Tâm chương phù, Thông thiên phù bản, Tam thiên hợp đồng khế khoán, Phân thần tịnh uế phù, Yết đế biến thần phù, Ngũ thần bảo phù, Xuất thần phù, Kim đồng ngọc nữ phù, Khuê thượng triêu chân phù, Quan nội thăng chân phù, Tả kiên thông chân phù, Hữu kiên thông chân phù, Toàn đẩu phù, Lịch cơ phù, Tam thiên ngọc khế phù, Ấn chương phù, Huân chương phù, Quyển chương phù, Nhập chương phù, Chương hàm tứ trắc phù, Chương hàm diện phù, Chương hàm底 phù, Chương đại thượng phù, Chương phục đại phù, Chương phục tứ giác phù, Tế chương triệu tướng phù, Nhập hộ phù, Chiêu chân phù, Giáng linh phù, Xuất quan tổng phù nhập đạo, Ngũ đế giáng thông chương tòng sự phù, Giám chương tòng sự phù, Trình chương tòng sự phù, Thiên đinh lực sĩ phù, Thiên giáp túc phù, Kiến tiết giám công phù, Cương phong kỵ lại phù, Tứ bộ yết giả phù, Tả hữu sứ giả phù, Tấu chương linh quan phù, Tuyên chương phù, Khai hàm tiểu lại phù, Khiển quan phù, Khiển tướng phù, Khiển tứ trực phù, Khu sử cương phong phù, Sắc trấn tứ duy phù, Phi bộ thương minh phù, Tam thiên triêu nguyên phù, Triệu chân ngọc phù, Thông thần bảo phù, Khai linh ngọc phù, Độn cảnh ngọc phù, Biến hóa ngọc phù, Thông thiên ngọc phù, Nhập thánh cảnh phù, Phấn chương phù, Khai thiên phù, Bảo chương thượng đạt phù, Độ hỏa phù, Thông chân đạt linh phù, Vận thần hội đạo phù, Phục chương phù, Đế xa phù, Thao phục xuất thần phù, Tam thiên thông đế phù, Kính đạt đế tiền phù, Hợp minh phù, Linh phong tụ yên phù, Bát quái phù, Thẩm chương phù, Hồi thần phù, Khai độ phù triện phẩm.
8. Khối Thần Hổ đường:
o Triêu hùng tả đại tướng phù, Thư hữu đại tướng phù, Ngọc trát đại thần phù, Hiển hồn đại thần phù, Đề hồn đại thần phù, Dương tinh đại anh phù, Âm tinh tiểu anh phù, Tam bộ sứ giả phù, Thất ngọc nữ phù, Thất đạo công tào phù, Thất tướng quân phù, Thần tiêu truy hồn phù, Kim khuyết tổng nhiếp phù, Nội đài chư tướng phù, Khiếu mệnh phong lôi phù, Thiết tích đài quang bảo chương, Tả trực ngục sứ phù, Hữu trực ngục sứ phù, Giám hồn đồng tử phù, Dẫn hồn đồng tử phù, Thần hổ nhiếp hồn phù, U tịch hiện hình phù, Truy hồn hiện hình phù, Thông thị hiện hình phù, Thông u thích biến phù, Thông ngữ phù, Giao tiếp dương quyến phù, Nhập mộng thông tiếp dương quyến phù.


Đạo phù chú là một loại hình văn hóa thần bí; sự hình thành và vận dụng của nó đã có từ thời kỳ tiền Đạo giáo. Ở thời Đông Hán, thực trạng vận dụng không chỉ có các cổ vật xuất thổ như Giải chú văn làm bằng chứng, mà còn có nhiều đạo phái áp dụng rộng rãi cho tín đồ, trong đó sự tuyên dương của dòng họ Thiên Sư vùng Thục Hán là đắc diệu hơn cả. Tuy nhiên, trong sự truyền thừa của phái Phù Lục cũng thu nạp rộng rãi nhiều đạo pháp mới xuất hiện, nổi bật là phái Đan đạo Nam tông, Bắc tông thời Kim - Nguyên với pháp tĩnh tọa luyện đan đủ sức trở thành một môn Tiên học một thời; ngoài ra các nhà Lý học xướng xuất học vấn tâm tính, coi trọng thứ đệ tu dưỡng đạo đức tâm tính, cũng đều tác động tới phái Phù Lục.

TƯ TƯỞNG TU ĐẠO CỦA “TRÙNG DƯƠNG LẬP GIÁO THẬP NGŨ LUẬN”“Trùng Dương Lập Giáo Thập Ngũ Luận” là tác phẩm do Tổ sư Toàn C...
25/08/2026

TƯ TƯỞNG TU ĐẠO CỦA “TRÙNG DƯƠNG LẬP GIÁO THẬP NGŨ LUẬN”

“Trùng Dương Lập Giáo Thập Ngũ Luận” là tác phẩm do Tổ sư Toàn Chân Đạo - Vương Trùng Dương sáng tác, gồm 01 quyển, thuộc Chính Nhất Bộ, nằm trong Đạo Tạng. Nội dung với gần 1.500 chữ đề cập đến tôn chỉ lập giáo và phương pháp tu luyện nhập môn của Toàn Chân Đạo. Tuy lời văn ngắn gọn, nhưng ý tứ vô cùng phong phú và độc đáo, có giá trị tham khảo to lớn trong đời sống hiện đại.

Với tinh thần “Tiên Đạo quý sinh”, Đạo giáo là một tôn giáo quý mến sự sống, sinh mệnh, hướng đến đắc Đạo thành tiên, trường sinh cửu thị là mục tiêu tu luyện. Là một tông phái Đạo giáo, Toàn Chân Đạo cũng lấy mục tiêu này làm tối yếu. Tuy nhiên, “trường sinh bất tử” không phải là sự bất hoại về mặt thể xác, mà đích thị là sự siêu việt về tinh thần - để “chân tính” - tồn tại vĩnh hằng trong chính Đại Đạo. “Thập Ngũ Luận” nói: “Kẻ rời bỏ thế tục không phải là thân rời đi, mà là nói về tâm địa. Thân như rễ sen, tâm như hoa sen; rễ ở trong bùn mà tâm ở nơi hư không. Người đắc đạo, thân ở chốn trần tục mà tâm ở cõi thánh”.

Trong góc nhìn về sự hoá sinh vạn vật, Toàn Chân Đạo tiếp thu những quan niệm vốn của truyền thống trước đó về “Đạo sinh vạn vật” và đồng thời cũng dung hoà thêm tư tưởng “Tứ sinh” của Phật giáo. Thuyết Tứ sinh chia các sinh thể sống thành thai-noãn-thấp-hoá, đồng thời nhấn mạnh con người cho nhân duyên hoà hợp mà có sinh-diệt. Tuy nhiên, một điểm bất di bất dịch trong tư tưởng Đạo giáo, cũng như Toàn Chân Đạo, là “Chân tính” thụ bẩm từ Đại Đạo không thay đổi.

Chân tính tồn tại trong tâm người, là chân linh/nguyên thần không sinh diệt, không mục hoại, cũng là gốc rễ việc trường sinh. Chân tính của con người trong thực tế thường bị ái dục làm nhiễu loạn và che lấp nên không hiển lộ, tu đạo chính là quá trình loại bỏ ái dục và làm hiển lộ chân tính. "Chân tính" ở con người biểu hiện thành "tính" và "mệnh", do đó, quá trình làm hiển lộ chân tính, tu luyện trường sinh cũng chính là quá trình "tính mệnh song tu" bao gồm minh tâm kiến tính và luyện tinh hóa khí.

Thập Ngũ Luận hết sức chủ trương "Tính mệnh là gốc rễ của tu hành, phải cẩn thận rèn luyện", cho rằng "Tính là thần vậy, mệnh là khí vậy. Tính nếu gặp mệnh, như chim gặp gió, bay bổng nhẹ nhàng, đỡ tốn sức mà dễ thành". Nói cách khác, mối quan hệ giữa tính và mệnh giống như mối quan hệ giữa chim bay và không khí: cả hai nương tựa lẫn nhau, làm dụng cho nhau, bổ trợ cho nhau; thiếu một cũng không được. Nếu không thì tu tiên khó thành. Tư tưởng chú trọng tu luyện tính mệnh do Thập Ngũ Luận đề ra chính là nền tảng của tư tưởng tính mệnh song tu thuộc Bắc tông Toàn Chân.

Phương pháp và nguyên tắc tu hành của Toàn Chân Đạo được thể hiện qua nhiều khía cạnh: Ở am, học sách, kết bạn đạo, chế thuốc, đả tọa, hàng phục tâm, phối hợp ngũ khí, vân du… Đơn cử như việc ở am, Toàn Chân Đạo không cho rằng các mối quan hệ gia đình, vợ chồng, con cái là điều xấu xa; nhưng chính sự bám chấp thái quá trong các mối quan hệ mới gây nên chướng ngại. Do đó, chủ trương của Toàn Chân Đạo đề xuất: “Hễ người xuất gia, trước tiên phải tìm đến am. Am là nhà vậy, là nơi để một thân nương tựa; thân có nơi nương tựa thì tâm dần được an. Khí thần hòa hãn hanh thông thì mới bước vào chân đạo vậy”.

Hoặc như việc học sách, là điều tất yếu của tu hành. Thập Ngũ Luận cho rằng, học kiến thức trong sách không được hời hợt trên bề mặt chữ nghĩa, cưỡi ngựa xem hoa, không cầu hiểu sâu, mà phải tinh đọc suy nghĩ thấu đáo, thấu hiểu sâu sắc, nghiền ngẫm kỹ càng, đạt đến mức tâm hiểu thần cảm, đắc ý quên lời, suy một ra ba, dung hội quán thông. Trùng Dương Chân Nhân viết: “Đạo học sách, không được dò từng chữ làm loạn mắt, nên nắm lấy ý để hợp với tâm. Bỏ sách tìm ý, lấy lý bỏ lý, lấy cái thú đạt được cái thú, thì có thể thu nhận vào tâm. Lâu dần tinh thành, tự nhiên ánh sáng trong tâm dạt dào, trí thần phấn chấn, không gì không thông, không gì không hiểu”.

Tóm lại, “Trùng Dương Lập Giáo Thập Ngũ Luận” thông qua việc tiếp thu tư tưởng Thiền tông Phật giáo, kế thừa lý luận nội đan Đạo giáo, đã luận giải tôn chỉ lập giáo và phương lược tu trì tổng quát của Toàn Chân Đạo. Thông qua việc khai thác tư tưởng tu đạo của tác phẩm, người đọc không chỉ hiểu được diện mạo khái quát về tư tưởng tu đạo của Toàn Chân đạo, mà còn thu nhận được nhiều quan điểm giáo dục có giá trị tham khảo.

ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC ĐẠO GIA:KHI AI NGÀY CÀNG THÔNG MINH, CON NGƯỜI SẼ GIỮ LẠI ĐIỀU GÌ?Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể viết,...
23/08/2026

ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC ĐẠO GIA:
KHI AI NGÀY CÀNG THÔNG MINH, CON NGƯỜI SẼ GIỮ LẠI ĐIỀU GÌ?

Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể viết, vẽ, đối thoại, nhận diện hình ảnh, xử lý dữ liệu và tham gia vào nhiều công việc từng được coi là đặc quyền của trí óc con người. Sự tiến bộ ấy đặt ra một câu hỏi sâu hơn về hiệu năng công nghệ: Nếu máy có thể làm ngày càng nhiều việc như con người, điều gì vẫn làm nên tính người? Triết học Đạo gia không đưa ra một câu trả lời giản đơn, nhưng gợi mở một cách nhìn giàu sức sống: con người không chỉ là một hệ thống tính toán, mà là một sinh thể biết tự ý thức, cảm nhận, sáng tạo, giữ quân bình và sống trong mối liên hệ với thế giới.
Trong đời sống hiện đại, AI mang lại nhiều tiện ích, nhưng nó cũng buộc con người quay trở lại một câu hỏi lâu đời: Con người là gì? Nếu năng lực xử lý thông tin, tính toán hoặc tạo ra câu trả lời không còn chỉ thuộc về loài người, liệu chúng ta sẽ định nghĩa giá trị của mình ở đâu?

Robin R. Wang (2021) đặt vấn đề AI ngay trong câu hỏi về ý nghĩa của việc “là người”, khi sự phát triển của trí tuệ nhân tạo thách thức những cách hiểu quen thuộc về con người và trí tuệ. Từ góc nhìn này, Đạo gia có thể đem đến một tiếng nói đáng chú ý, không phải bởi truyền thống Lão - Trang có sẵn một “bộ quy tắc” dành cho AI, mà bởi nó gợi mở một cách nhìn khác về con người: không chỉ như một chủ thể tính toán và tối ưu hóa, mà như một phần của một thế giới luôn vận động, nơi con người tồn tại trong sự liên hệ với thân thể, tự nhiên và những chiều kích của đời sống không dễ quy giản thành dữ liệu hay hiệu suất.

01. CON NGƯỜI KHÔNG CHỈ LÀ THUẬT TOÁN

AI thường được mô tả như khả năng xử lý dữ liệu, nhận diện mẫu hình và tạo phản hồi dựa trên các mô hình tính toán. Ở một phương diện nhất định, điều này có thể gợi liên tưởng đến ý niệm Đạo gia về sự vận động, phản hồi và thích nghi. Wang (2021) thừa nhận rằng các thuật toán, nhất là các hệ thống có vòng phản hồi, có thể biểu hiện một dạng “dòng chảy” tương tự: nhận đầu vào, xử lý thông tin, điều chỉnh và tạo đầu ra.
Tuy vậy, từ nhãn quan Đạo gia, đồng nhất con người với thuật toán - dù là thuật toán phức tạp nhất - là một sự giản lược. Trong diễn giải của Wang (2021), đời sống người không chỉ là thông tin, dữ liệu hay mạng lưới. Đó là một hệ thống sống, phi tuyến và tự tổ chức; con người tồn tại bằng thân thể, cảm xúc, trải nghiệm, ký ức, quan hệ xã hội và khả năng sống qua những biến đổi của đời mình.

Khái niệm Khí (qi) giúp diễn đạt chiều kích ấy. Wang (2021) trình bày Khí như một nguyên lý năng động, thấm vào toàn bộ đời sống: từ cơ thể, sự vận hành của tư tưởng đến quan hệ giữa con người với thế giới. Theo cách nhìn này, sự sống không phải là một tệp dữ liệu có thể tách ra, sao chép và chuyển sang một vật chứa khác. Nó là một tiến trình đang diễn ra, nơi thân thể, môi trường, cảm giác và tinh thần đan cài vào nhau.

Bên cạnh khí, Wang (2021) nhấn mạnh đến Thần (shen) - chiều kích tinh thần, sự sáng tỏ trực giác và năng lực vượt ra ngoài những thao tác tính toán thuần túy. Thần không nên bị hiểu đơn giản như một thực thể siêu nhiên có thể tách khỏi cơ thể; đúng hơn, đó là phương diện tinh thần nảy sinh và biến đổi trong đời sống thân thể cũng như trong các tương tác xã hội. Chính vì vậy, việc máy móc có thể tái tạo trọn vẹn ý thức hay chiều sâu tinh thần của con người vẫn là một câu hỏi mở, không thể giải quyết chỉ bằng việc tăng năng lực tính toán.

Điểm mấu chốt ở đây không phải là khẳng định rằng AI không thể làm được bất cứ điều gì “giống người”. Điều quan trọng hơn là không để tiêu chí tính toán trở thành thước đo duy nhất của con người. Một hệ thống có thể tạo ra một bài thơ, nhưng không vì thế mà tự trải nghiệm niềm vui, mất mát hay chịu trách nhiệm đạo đức đối với hệ quả của lời mình tạo ra. Máy móc có thể mô phỏng ngôn ngữ của sự cảm thông; còn cảm thông, trong đời sống con người, gắn với khả năng bị tổn thương, lắng nghe và cùng gánh chịu hậu quả với người khác.

02. CÔNG NGHỆ VÀ “CƠ TÂM”

Từ lâu, Đạo gia thường bị diễn giải như một truyền thống chống công nghệ. Cách hiểu này có cơ sở nhất định: hình ảnh bậc hiền triết trong Đạo Đức Kinh và Trang Tử là người sống thuận theo tự nhiên, không cưỡng ép thế giới theo ý muốn chủ quan. Tuy nhiên, diễn giải như vậy chưa đầy đủ.
Wheeler (2022) cho thấy Trang Tử không hề phủ định mọi công cụ. Trong câu chuyện Bào Đinh mổ bò, con dao không ngăn Bào Đinh đạt tới vô vi (wuwei). Sau quá trình rèn luyện, ông không còn hành động bằng sự tính toán vụn vặt, mà đi theo “lẽ tự nhiên” của sự vật. Tương tự, người gù bắt ve vẫn có thể sử dụng dụng cụ một cách tập trung và thuần thạo. Những câu chuyện này gợi ý rằng công cụ, tự nó, không nhất thiết làm con người xa Đạo.

Trang Tử cũng kể chuyện người làm vườn từ chối dùng công cụ để đào nước. Lý do không phải là ông không biết công cụ ấy, mà vì ông lo nó sinh ra “cơ tâm” (ji xin) - một lối tâm trí đầy toan tính, máy móc. Khi “cơ tâm” chi phối, cái “thuần phác” bị tổn hại; tinh thần không còn yên, và con người dễ xa rời Đạo.

Chuyển dịch hình ảnh ấy vào đời sống số hiện nay, “cơ tâm” có thể được hiểu như một nguy cơ khiến công nghệ định hình cách ta chú ý, ghi nhớ, phán đoán và mong muốn. Khi mọi việc được quy về tốc độ, lượt tương tác, khả năng dự báo hay hiệu suất, con người có thể vô thức nhìn thế giới qua các chỉ số do công cụ tạo ra. Khi ấy, công nghệ không chỉ là phương tiện trong tay người dùng; nó trở thành một khuôn mẫu âm thầm tổ chức cuộc sống.

Điều này đặc biệt quan trọng trong xã hội siêu kết nối. Xã hội ấy như một trạng thái trong đó sự kết nối không chỉ diễn ra giữa người với người, mà còn giữa người với vật thể và giữa các vật thể với nhau (Kim và Kim, 2025). Cấu trúc đó mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và tương tác, nhưng đồng thời cũng kéo theo sự quá tải thông tin, nguy cơ xâm phạm quyền riêng tư, phân mảnh xã hội và các điểm yếu mang tính hệ thống.
Ở cấp độ cá nhân, môi trường siêu kết nối có thể khuếch đại thiên kiến xác nhận và gây quá tải nhận thức. Ở cấp độ cấu trúc, các hệ thống thuật toán có thể làm suy giảm quyền tự chủ khi chúng âm thầm định hướng lựa chọn và hành vi. Khi những tác động này gặp nhau, chúng có thể gia tăng phân cực xã hội, sự cô lập và các rủi ro lan truyền trong toàn bộ hệ thống (Kim & Kim, 2025). Trong bối cảnh ấy, câu hỏi Đạo gia đặt ra không chỉ là “AI có mạnh đến đâu?” mà còn là “chúng ta có còn làm chủ được tâm trí, ham muốn và mục đích của mình hay không?”

03. VÔ VI KHÔNG PHẢI LÀ ĐỨNG YÊN

Khi nói đến vô vi, người ta dễ hiểu lầm rằng đó là sự thụ động, không hành động hoặc quay lưng với thế giới hiện đại. Nhưng vô vi không đồng nghĩa với buông xuôi. Nó gợi một cách hành động không cưỡng ép, không áp đặt ý chí một cách thô bạo lên sự vật, đồng thời biết lắng nghe những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh.

Trong nghiên cứu về xã hội siêu kết nối, Kim và Kim (2025) xem vô vi cùng với tự nhiên (ziran) là những nguồn lực để suy nghĩ lại mối quan hệ giữa phương tiện và mục đích. Đạo gia không yêu cầu con người phủ nhận kỹ thuật, nhưng nhắc chúng ta phải giữ một khoảng cách với công nghệ: không để mọi thứ trở thành điều cần phải làm; không để hiệu quả thay thế cho ý nghĩa; và không để sự kết nối kỹ thuật bị nhầm lẫn với sự gắn bó có ý nghĩa giữa con người với con người.
Đó là lý do quan niệm “tâm trai” (xinzhai) trong Trang Tử trở nên đặc biệt đáng để suy ngẫm. Tâm trai như một thực hành làm lắng những sự phân biệt, định kiến và khuôn mẫu có sẵn trong tâm trí, từ đó giúp con người không bị cuốn theo “đạo của công nghệ”. Đó không phải là từ bỏ suy nghĩ hay rút lui khỏi mọi hoạt động xã hội. Đúng hơn, đó là học cách thống nhất ý hướng, giữ sự tỉnh táo trước sự xao nhãng và để hành động không bị điều khiển hoàn toàn bởi các phản ứng tức thời.

Trước khi dùng một công cụ tạo sinh, chúng ta có thể tự hỏi: công cụ này đang hỗ trợ mục tiêu nào của mình? Nó giúp mở rộng hiểu biết hay chỉ khiến ta tiêu thụ thêm các câu trả lời có sẵn? Trong một lớp học, AI có thể hỗ trợ sinh viên tìm gợi ý, nhưng không nên thay thế việc đọc kỹ, đối chiếu lập luận và tự hình thành quan điểm. Trong tòa soạn, AI có thể hỗ trợ xử lý dữ liệu hoặc gợi ý dàn ý, nhưng trách nhiệm kiểm chứng, lựa chọn góc nhìn và cân nhắc hệ quả đối với công chúng vẫn phải thuộc về con người.

04. ĐÓN NHẬN CÔNG NGHỆ, NHƯNG GIỮ PHẦN NGƯỜI

Nghiên cứu của Chen và Zhang (2025) đưa ra một minh họa khác về khả năng đối thoại giữa Đạo gia và hiện đại hóa. Dựa trên dữ liệu cấp vùng tại Trung Quốc, hai tác giả tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa mức độ hiện diện của tư tưởng Đạo gia và sự đổi mới trong công nghệ dữ liệu lớn. Họ đề xuất rằng ảnh hưởng này có thể vận hành thông qua nguồn lực tâm lý tích cực - bao gồm tự tin, hy vọng, lạc quan và khả năng phục hồi - cũng như thông qua sự phát triển của tài chính số và kinh tế số. Kết quả này không có nghĩa là triết học Đạo gia tự động tạo ra đổi mới, cũng không cho phép suy rộng ra mọi bối cảnh. Tuy nhiên, nó gợi ý rằng truyền thống triết học không nhất thiết là lực cản đối với công nghệ; nó có thể là nguồn lực giúp xã hội đổi mới theo cách linh hoạt, cân bằng và ít bị ám ảnh bởi sự kiểm soát hơn.
Đạo gia vì thế không đặt con người đối đầu với máy móc trong một cuộc thi xem ai tính nhanh hơn. Đạo gia nhắc rằng con người không cần chứng minh mình vượt trội ở mọi tác vụ. Máy có thể giỏi hơn trong việc tính toán, lưu trữ, phát hiện mẫu hình và thực hiện các công việc lặp lại. Dù vậy, con người vẫn là chủ thể phải trả lời những câu hỏi mà không thuật toán nào có thể tự chịu trách nhiệm: nên làm điều gì, vì ai, với những giới hạn nào và hướng tới một đời sống như thế nào?

Tính người, nhìn từ đó, không nằm ở việc sở hữu một khả năng độc quyền không thể sao chép. Nó hiện diện trong năng lực tự vấn, chăm sóc, chịu trách nhiệm, cảm nhận tính dễ tổn thương của người khác và giữ được sự quân bình giữa sức mạnh kỹ thuật với ý nghĩa của đời sống.

Trong thời đại AI, có lẽ điều cần bảo vệ không phải là một hình ảnh tự mãn về con người như “cỗ máy thông minh nhất”. Điều cần bảo vệ là khả năng sống như con người: không bị quy giản thành dữ liệu, không để hiệu suất quyết định mọi giá trị, không đánh mất sự chú ý sâu sắc, sự sáng tạo và trách nhiệm đối với những người cùng sống trong một thế giới.

* Tài liệu tham khảo:

Chen, X., & Zhang, H. (2025). How do Taoist thoughts influence big data technological innovation? Empirical evidence from China. Humanities and Social Sciences Communications, 12, Article 619.
Kim, D., & Kim, T. (2025). Addressing hyperconnected society’s challenges through Laozi-Zhuangzi thought. Religions, 16(6), Article 712.
Wang, R. R. (2021). Can a machine flow like Dao? The Daoist philosophy on artificial intelligence. In B. Song (Ed.), Intelligence and wisdom (pp. 65-83). CITIC Press Corporation.
Wheeler, B. (2022). The motherboard of myriad things: Daoism, Zhuangzi, and the internet. Asian Studies, 10(1), 425-446.

CUỐI TUẦN MỘT VỊ TÔN THẦN: KHÔI TINH ĐIỂM ĐẨUKhôi Đẩu Tinh Quân, hay còn gọi là “Khôi Tinh”, hiệu “Đông Phương Mộc Tú Kh...
23/08/2026

CUỐI TUẦN MỘT VỊ TÔN THẦN: KHÔI TINH ĐIỂM ĐẨU

Khôi Đẩu Tinh Quân, hay còn gọi là “Khôi Tinh”, hiệu “Đông Phương Mộc Tú Khôi Đẩu Tinh Quân”, được xếp vào hàng Ngũ Văn Xương của hệ thống Đạo giáo. Đây là niềm tin dung hợp giữa tín ngưỡng Khuê Tú trong Nhị thâp bát tú và hệ thống Bắc Đẩu Khôi Tinh. Ngài được xem là vị tôn thần chủ quản văn chương thiên hạ, cũng như công danh sĩ tử, thứ hạng trường thi; được thờ kính chung cùng Văn Xương Đế Quân.

Từ thời Tiên Tần, các quan viên chuyên coi sóc thiên tượng đã phân định vòm trời thành 4 phần với Nhị thập bát tú. Trong bảy sao thuộc chòm Bạch Hổ phương Tây, đứng đầu là Khuê Tú. Sao Khuê có hình dáng uốn khúc, móc nối, tương tự các văn tự và nét bút, nên được xem là chủ quản của văn chương, thi phú. Đồng thời, khi phân định Bắc Đẩu Thất Tinh, chia bốn sao Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc gọi là “Đẩu Khôi”; ba sao Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân gọi là “Đẩu Bính”. “Xuân Thu Vận Đẩu Xu” viết: “Từ sao thứ nhất đến thứu tư gọi là Khôi; sao thứ năm đến sao thứ bảy gọi là Chước”. “Sử Ký - Thiên Quan Thư” lại nói: “Khôi, là sao thứ nhất của Đẩu”.

Bắt đầu từ thời Hán - Nguỵ, các đồ thư sấm vĩ xác lập “Khuê chủ văn chương”, đặt nền tảng cho tín ngưỡng Khôi Tinh. Đông Hán - “Hiếu Kinh Viện Thần Khế” chép rằng: “Sao Khuê chủ về văn chương, Thương Hiệt noi theo hình tượng ấy”. Lại có chú giải: “Sao Khuê uốn khúc, móc nối lẫn nhau, giống như nét văn tự”. Về sau, kho sách của triều đình được tao nhã gọi là “Khuê phủ”, ngự thư của đế vương được gọi là “Khuê chương”; tất cả đều phát triển từ quan niệm này. Ở giai đoạn này, chữ “Khuê” chỉ riêng Khuê tú của phương Tây, vẫn chưa hợp lưu với khái niệm “Đẩu Khôi” của Bắc Đẩu.

Dưới tời Tuỳ - Đường, cho đến Lưỡng Tống, việc thi cử phát triển mạnh. Do “Khuê” (奎) và “Khôi” (魁) đồng âm, trong khi nghĩa gốc của chữ “Khôi” là người đứng đầu; điều này phù hợp với những mong ước tốt đẹp trong khoa cử như đoạt khôi (夺魁), Khôi giáp (魁甲), Giải Khôi (解魁), Kinh Khôi (经魁). Từ đó, con người dung hợp niềm tin về vị tôn thần “chủ văn chương” của Khuê tú thuộc Nhị thập bát tú với hàm nghĩa “đứng đầu, thủ khoa” của Đẩu Khôi thuộc Bắc Đẩu. Từ đó, “Khuê Tinh” (奎星) từng bước biến đổi thành “Khôi Tinh” (魁星). “Quý Tân tạp thức - Quang Nghiêu” chép: Khi tiến sĩ được xướng danh trước triều đình, thiên tử đích thân ngự điện, tể tướng tiến dâng bài thi; người đỗ Trạng nguyên thì được ban một bộ chén và đĩa Khôi Tinh mạ vàng. Có thể thấy, vào thời Nam Tống, biểu tượng Khôi Tinh đã được đưa vào sâu trong nghi lễ khoa cử của hoàng gia.

Chuyên mục “Cuối tuần một vị tôn thần” được đăng tải trên Fanpage Long Môn vào Chủ nhật hàng tuần, sẽ cùng quý đạo hữu và độc giả tìm hiểu về một vị tôn thần trong tín ngưỡng Đạo giáo. Qua mỗi bài viết, chúng tôi mong muốn giới thiệu ngắn về tín ngưỡng của chư vị tôn thần, qua đó góp phần giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về kho tàng văn hóa, triết lý và đức tin của Đạo giáo.


QUY Y, XUẤT GIA VẤN ĐÁP* Hỏi: Quy Y của Đạo giáo là gì?Đáp: Thứ nhất quy Thân. Nương nhờ Thái Thượng Vô Cực Đại Đ...
22/08/2026

QUY Y, XUẤT GIA VẤN ĐÁP

* Hỏi: Quy Y của Đạo giáo là gì?

Đáp: Thứ nhất quy Thân. Nương nhờ Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo mà không vạ luân hồi triển chuyển, xưng Đạo Bảo; Thứ nhì quy Thần, y theo ba mươi sáu bộ Tôn Kinh có thể đốn ngộ chính pháp, gọi Kinh Bảo; Thứ ba quy Mệnh, cậy trông Huyền Trung Đại Pháp Sư đoạn tuyệt tà kiến, viết Sư Bảo. Tam Quy Y giới chính là “bản lề” trọng yếu trong cõi Trời-Đất, là căn cơ gốc gác đạo thần tiên. Giả như có kẻ phát tâm làm theo, chính là đang kiến thiết lại thâm tâm, khiến cho vạn khí đều linh diệu, minh chân nhập lý, bao la hữu tượng, vô chướng vô ngại. Phàm kẻ nào trì giữ Tam Quy Y giới, có thể khiến trời đất Thần Minh đẹp lòng, vui mừng khánh khoái. Tai mắt thần trí nhờ đó khai khuếch thông tỏ. Vạn vật nương đó mà kính trọng nể nang. Lục phủ theo đó mà điều hòa an thái. Chúng Chân lại cảm lòng kẻ hành trì tuân giữ giới văn, tỏ lòng thương xót hộ vệ sinh linh. Cha mẹ cũng được triêm hưởng ân phúc trường thọ, nhân thân hòa thuận yên vui.

* Hỏi: Xuất gia trong Đạo giáo là gì và ai có thể xuất gia?

Đáp: Xuất gia là rời nhà, nhà có hai nét nghĩa: gia quyến và thể xác. Rời gia quyến đoạn tuyệt ái ân, hiểu đơn thuần là không chấp trước trong các mối quan hệ mà sinh phiền não, gỡ bỏ triền buộc về các mối duyên, mở lòng làm phúc lợi cho cả người thân lẫn kẻ lạ, không giữ riêng cho cá nhân hay gia đình. Rời thể xác là rời xa tam nghiệp thập ác, chẳng câu nệ trong thất tình lục dục, tiết độ khu khiển hợp tình.

Phàm xuất gia trong Đạo giáo, không không bị giới hạn hay phân biệt bởi vùng miền, nghề nghiệp, giới tính, tính dục, dân tộc, phong tục, v.v… Tất cả đều được Đại Đạo xông xênh đón mừng. Xuất gia là ân điển, không phải là điều kiện để được điều này điều khác. Muốn xuất gia phải giữ thân tâm như “chiếc lược” - phàm chiếc lược có răng lược và khoảng trống mới nên được công dụng, ý khuyên lơn rằng nhân thế nên giữ điều cần giữ, bỏ điều cần bỏ, cửa Đạo nào khép kín với ai bao giờ!

Ngoài ra, người đã quy y Đạo giáo gọi là tín sĩ, việc xuất gia trở thành đạo sĩ hay không là tuỳ thuộc vào lựa chọn cá nhân, không ép buộc với bất kỳ ai, trong mọi hoàn cảnh.

* Hỏi: Sống đời đạo sĩ là như thế nào?

Đáp: Đạo sĩ trong mắt nhiều người rất thần bí, chẳng hạn như trấn ma, vẽ bùa, chữa bệnh cứu mạng, bói toán chiêm tinh. Hầu hết mọi người vẫn nghĩ đạo sĩ như những truyện phim hoặc tiểu thuyết. Kì thực, đạo sĩ chỉ đơn thuần là lấy Đạo làm đầu, làm cùng đích tối thượng của mình hướng đến. Và để đạt được lý tưởng đó, đạo sĩ phải hành pháp, các pháp có thể như phù chú, triều khoa, lễ thánh, thí thực, độ vong,...

Address

Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 17:00
Sunday 09:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Long Môn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category