Ngọc Đoàn

Ngọc Đoàn Từng cuộc đời trong những câu chuyện hiện lên thật sinh động và đẹp đẽ.

25/03/2026

"Khi bu cất lên khúc hát cũ bằng giọng đàn bà mệt mỏi, tôi nhắm mắt, nghe từng chữ rót vào lòng. Lời bài hát như cánh tay đặt lên vai tôi. An ủi, trách móc, bảo tôi phải sống tiếp. Và dưới ánh trăng sáng trong vắt, những quả lựu ngoài sân lờ mờ như những trái tim đỏ đang thở, thở đều, như thể dặn dò tôi rằng đời vẫn tiếp diễn, dù máu đã khô trên đất."

25/03/2026

"Chiều buông qua lối trúc gầy,
Heo may chạm lá rụng đầy trước hiên.
Mai đi để lại ưu phiền,
Trúc nghiêng một bóng bạc miền nhớ thương."

[Trúc Mai - Coming soon]

RÉT XUÂN HÀ NỘI & HƠI THỞ MOSCOW 2: NhàTrong xe bỗng im phăng phắc. Boris ngơ ngác nhìn tôi. Tôi thoáng thấy Victor huýc...
22/12/2025

RÉT XUÂN HÀ NỘI & HƠI THỞ MOSCOW

2: Nhà

Trong xe bỗng im phăng phắc. Boris ngơ ngác nhìn tôi. Tôi thoáng thấy Victor huých khuỷu tay vào bên sườn Quân rồi lên tiếng để chữa gượng: - Anh Dũng có mệt không? Mệt thì em chở hai người về nghỉ, hôm nào mình lại đi ăn.

- À, anh bình thường. Đằng nào cũng mất công đón anh rồi, thôi cứ đi ăn trước đi. Hai đứa ăn gì? Anh mời.

- Em sao cũng được, anh muốn ăn ở đâu?

- Hai đứa cứ chọn đi, anh mới về không biết chỗ.

Quân với Victor ngồi trước bàn nhau xem nên ăn gì, Boris thì tròn xoe hai mắt nhìn, nhắc đến món gì cũng gật đầu.

Để cho hai người kia chọn quán ăn, Boris nhích lại sát bên tôi, ghé xuống thì thầm:

- Lạnh không em? - Anh đội mũ len lên đầu tôi, trùm kín cả hai tai, rồi chỉnh lại khăn choàng cổ.

Tôi lắc đầu, nhưng vẫn thấy lành lạnh. Không phải kiểu tê cóng mà là len lỏi, cái rét mướt bám riết như cố chui vào từng kẽ xương.

Anh luồn tay qua eo kéo tôi vào sát hơn. Mùi quen thuộc trên áo khoác anh bao lấy tôi, mùi vải dày, xà phòng, và cả hương nắng sớm. Anh để tôi nghiêng đầu tựa lên vai mình rồi xoa xoa đầu tôi.

- Em đi đường dài, mệt rồi. - Anh nói nhỏ bên tai tôi, giọng trầm và ấm.

Tôi nhắm mắt lại, từ từ cảm nhận hơi ấm từ anh. Từ lâu tôi đã biết mình có thể bị giết chết bởi ký ức và mùi hương.

Xe dừng trước một con ngõ nhỏ. Victor tắt máy, quay xuống:

- Tới rồi. Welcome to my favorite restaurant!

Boris là người xuống xe trước. Anh chạy lon ton vòng qua phía tôi, mở cửa, đưa tay ra chờ tôi nắm, hai mắt thì cứ long lanh. Tôi phì cười, đặt tay mình vào tay anh.

Ngõ hẹp, lát gạch cũ, hai bên là những ngôi nhà thấp. Mùi đồ ăn từ đâu đó lan ra, mùi hành phi, mùi cá kho, mùi nước mắm đun lên.

Tôi chau mày: - Restaurant?

Còn Boris thì hít hà, mắt sáng lên: - Thơm ghê.

- Đùa, không phải nhà hàng đâu. Nhưng mà đảm bảo ngon. Mọi người vào đi, em đánh xe sáng bên kia đã. - Victor lên tiếng.

Boris nhiệt tình bước vào quán trước, nhanh nhảu kéo ghế cho tôi. Anh ngồi sát bên, đầu gối chạm đầu gối. Quân và Victor ngồi đối diện, họ đang nói chuyện gì đó về đường sá, về mấy quán ăn quanh đây, giọng nhẹ tênh. Tôi nhìn, cũng đều từ nước ngoài trở về, nhưng trông họ cứ như những người gốc Hà Nội đã sống ở đây từ bé đến lớn, tự nhiên và thân thuộc đến lạ. Đến cả Victor, một người mới về nước chưa lâu mà cũng rất sành sõi.

Tôi nhìn quanh. Không gian nhỏ ấm áp, bàn ghế gỗ kiểu cũ thấp tè, đen đặc. Mùi đồ ăn mỗi lúc một rõ hơn: mùi thịt rang cháy cạnh, mùi canh rau ngót, cà pháo muối sổi.

Boris ghé sát tai tôi: - Ở đây giống nhà quá ha.

Tôi gật đầu. Giống một căn bếp cũ kỹ mà tôi từng biết, từng bước qua và đứng nép vào cửa nhìn người lớn nấu ăn trong những buổi sáng rét mướt.

Món ăn được mang ra từng đĩa một. Không cầu kỳ, không trang trí. Boris ăn ngon lành, anh thử mọi thứ, món nào cũng gật gù, thỉnh thoảng lại quay sang cảm thán với tôi. Anh lúc nào cũng như thế.

Quân kể cho tôi nghe chuyện hồi còn đi học, mấy lần lỡ đi học muộn rồi cúp luôn tiết đầu để đi ăn sáng. Hà Nội đầy thứ ngon, khi thì bún riêu, hôm lại phở cuốn, bánh giò, bánh đúc. Hôm nào gấp gáp làm vội gói xôi cũng đủ ấm bụng cả sáng. Victor cười, lâu lâu chen vào một câu, ánh mắt dịu đi thấy rõ. Tôi lặng lẽ nghe, vừa ăn vừa nhìn hơi nước bốc lên từ bát canh, nghĩ về năm tháng mà mình không có mặt trong những câu chuyện này.

Lòng chợt trùng xuống, đáng ra tôi cũng đã có một thời trẻ trâu như thế ở mảnh đất này.

Tôi nhìn chăm chăm vào trong bát, chợt có miếng sườn rơi vào. Boris cười hì hì nhìn tôi: - Ngon lắm í, em ăn đi!

Nhìn anh, lòng tôi dần ấm lên. Nghĩ lại, tôi thấy tuổi trẻ của mình cũng đáng giá lắm.

Xong bữa, Victor chở chúng tôi về căn nhà cũ tôi từng ở hồi nhỏ. Là nhà của ông bà ngoại tôi.

Nhà gian kiểu cũ, không lớn, nhưng gọn gàng. Boris đã ở đây hai tháng, anh dọn dẹp lại mọi thứ từ trên xuống dưới. Bộ bàn ghế, cái sập cũ còn nguyên và bàn thờ ông bà tôi đèn đuốc nhang khói đầy đủ. Tôi bước tới thắp cho ông bà nén hương.

Boris đẩy vali của tôi vào góc phòng, cởi áo khoác, rồi quay lại nhìn tôi: - Em mệt chưa?

Tôi chưa kịp trả lời thì anh đã tiến lại gần, ôm tôi. Cằm anh đặt lên đỉnh đầu tôi, âu yếm.

- Welcome home. - Anh nói khẽ.

Tôi khựng lại trong vòng tay anh.

Home.

Tôi không nói gì. Chỉ siết lưng anh chặt hơn một chút.

- Boris này. - Tôi khẽ gọi.

- Ơi! - Anh đáp.

- Cảm ơn anh!

- Sao thế?

Tôi không trả lời, chỉ vùi sâu hơn vào lồng ngực anh, giấu đi hai mắt trực trào. Nhưng rồi anh lại kéo tôi ra, nhẹ nhàng vuốt má tôi lau đi hai hàng lệ. Anh rải rác những cái hôn từ trên đỉnh đầu xuống trán, hốc mắt, mũi, môi, gò má.

- Em đừng khóc.

Tôi vòng tay qua cổ, gục đầu trên vai anh để anh bế ra ghế sô pha. Anh để tôi ngồi trên ghế còn mình quỳ dưới đất thay vớ cho tôi.

- Chân em lạnh. Anh mở máy sưởi rồi mà? - Nói rồi anh ôm cả hai bàn chân tôi vào lòng, xoa xoa.

- Anh sửa nhà à? - Tôi hỏi bằng tiếng Nga.

- Ừ, không có điều hòa sao em ở được. Với nhà này cũng cũ rồi mà, lâu rồi em mới về, phải sửa để đón ông bà về ăn Tết với em nữa chứ! - Anh mang vớ cho tôi xong, đẩy tôi nằm xuống, kéo chăn lên đắp kín cổ. Anh hôn lên trán, nhét điều khiển TV vào tay tôi rồi quay vào bếp.

- Để anh pha cho em cốc cacao, nằm nghỉ tí đi. Anh pha nước ấm xong gọi em dậy đi tắm.

Tôi nhìn anh loay hoay trong bếp, nghe tiếng ấm đun nước reo hoà với tiếng ly tách lạch cạch, cảm giác như thời gian đã quay ngược trở về năm mình đôi mươi, khi hai đứa chúng tôi rúc vào nhau sống bon chen trong khu tập thể ở rìa thành phố Moscow. Dù cuộc sống khốn khó, anh cũng chưa từng để tôi động tay vào việc gì, kể cả việc vặt vãnh như quét nhà rửa bát.

Tối đến, tôi đứng bên cạnh khoanh tay tựa lưng lên vách tường xem anh nấu cơm. Thỉnh thoảng nói vài chuyện vu vơ.

- Ở đây... - Boris vừa đảo chảo vừa nói - Khác ở Nga nhiều.

- Khác thế nào?

Anh nghĩ một lúc. - Ở Moscow… lạnh nhưng rõ ràng. Ở đây… - Anh tìm từ. - Lạnh kiểu mềm.

Tôi bật cười. - Mềm?

Boris gật đầu, rất chắc chắn. - Giống em á!

Tôi cười, bất lực trước cái lãng mạn ngô nghê ấy.

Ăn xong, chúng tôi tắt bớt đèn. Chỉ để lại một bóng vàng nhỏ ở gian ngoài. Ngoài kia, mưa xuân rơi, mỏng và dai. Boris ngồi xuống ghế, kéo tôi lại gần, để tôi tựa vào ngực anh. Tiếng tim anh đều, chậm, rất khác nhịp tim tôi đang loạn lên từng chút một.

- Dũng. - Boris gọi tên tôi, phát âm vẫn chưa tròn, nhưng rất cố gắng.

- Ừ?

- Em có vui… khi về đây không?

Tôi im lặng một lúc. Câu hỏi ấy nhẹ tênh, nhưng rơi xuống lòng tôi như một viên sỏi.

- Em bình thường.

Boris nghiêng đầu nhìn tôi bằng đôi mắt xanh biếc. Mỗi lần đối mặt với ánh mắt ấy, tôi cảm thấy mình như được cả Bắc Băng Dương cuốn lấy. Bàn tay anh vuốt nhẹ lưng tôi, từng nhịp chậm rãi, như dỗ một con mèo hay giật mình.

- Bình thường là không vui rồi. Sao thế? Kể anh nghe đi. - Anh dụi đầu cọ cọ lên má tôi, thủ thỉ với tôi bằng giọng Nga, vẫn trầm, ấm và dịu dàng như nắng sớm.

MÙA LỰU CHÍN1Người ta báo về rằng lạc mất thầy tôi trong một trận oanh tạc. Không ai bảo gì, nhưng ai cũng biết hai chữ ...
13/11/2025

MÙA LỰU CHÍN

1

Người ta báo về rằng lạc mất thầy tôi trong một trận oanh tạc. Không ai bảo gì, nhưng ai cũng biết hai chữ "lạc mất" kia đồng nghĩa với việc chúng tôi đã mất đi thầy mãi mãi. Còn các anh tôi, người thì đã xuất ngũ để về với bu và các em, người thì...

"Rải rác biên cương mồ viễn xứ."

Lần lượt nhận giấy báo tử, bu tôi không khóc lấy một lần. Chỉ lẳng lặng ngồi trên chõng tre dưới gốc lựu, hát bài "Mẹ yêu con".

Nhà tôi ngày trước tổng cộng tám anh chị em, gồm năm anh và hai chị, tôi là út mót. Sau khi lạc mất thầy, các anh tôi lại lần lượt lên đường theo tiếng gọi của tổ quốc, cứ giấy báo về là đi, bởi các anh tin rằng mình là "lá" trên rừng trong khúc hát Lá xanh.

"Lá còn xanh như anh đang còn trẻ
Lá trên cành như anh trong đoàn quân
Gió rung cây cành lá tưng bừng đùa vui
Anh trai làng có đi chiến dịch mùa xuân
Anh là lá trên cành ngại chi gió mưa
Anh là trai phải ra chiến trận phen này."

Từng người, từng người một dần mất hút. Ấy thế mà đến khi hai chị tôi quyết đi xung phong, bu lại chẳng can, cũng không rơi một giọt lệ.

Ngày ấy khốn khó, tôi khóc nhiều đến nỗi bu phát cáu. Nghèo khổ và đói rét cứ bòn dần, bòn dần tinh thần chúng tôi qua từng ngày. Nhà chỉ còn lại ba anh em, thỉnh thoảng anh cả và anh tư kể cho tôi nghe về những "chiến tích" của mình bằng giọng đùa hợm hĩnh. Anh tư hay kể về thằng cu em ra trận mà súng không biết cầm, cò chưa dám bóp, dạy mãi không khôn ra nổi.

"Thằng đấy ngu lắm, may mà vào được tiểu đội tao nhiều cựu cán, chứ không thì nó chết cụ ngay lúc vừa qua sông rồi. Dốt ơi dốt! Mà kể có nó cũng vui. Tao sống qua được hơn tám chục ngày ở Thành cổ mà chẳng ngày nào tao có cảm giác của người đang sống, bốn bề đều là máu thịt, nhìn đâu cũng đỏ lòm như địa ngục trần gian. Không có cái thằng khù khờ đấy đi theo, lắm lúc tao còn tưởng mình là ma ấy chứ."

Nhưng càng kể càng ứa nước mắt.

"Nó chết, trước mắt anh em tao. Tao thấy rõ nó đang nhìn, cười tươi lắm! Đó là lúc lũ khốn kia được đà đánh hăng. Thế là nó tan xác. Hôm sau bọn tao đào được đầu của nó, chỉ vừa thấy lấp ló cái vạt áo xanh sờn là anh em túi bụi moi hết đất xung quanh lên, đất cát lạo xạo chen vào kẽ móng tay đau nhói mà vẫn cứ moi. Thi thể không vẹn nguyên trông rợn óc, thế mà thằng nào cũng sấn vào ôm rồi khóc như cha chết. Bọn tao kéo nhau nhặt nhạnh lại những gì còn sót lại để chôn cất cho nó được yên nghỉ tử tế. Mà khốn nạn! Mộ hôm nay chôn ngày mai lại bị bom đạn cày xới tung hết lên, đất cát lại lẫn chung với máu thịt nhoe nhoét."

Anh tư nói rồi nghẹn lời, tay bấu chặt vào vành chõng như muốn giữ cho mình khỏi ngã. Tôi ngoảnh mặt nhìn sang bên kia sân để làm dịu xuống cơn g*i ốc, thấy lựu chín đỏ lầm lũi trên cành, những quả ấy như đang chảy từng giọt máu nhỏ xuống mặt đất. Còn bu thì chỉ nằm im, mắt như đã mù lặng đi. Chiến tranh cướp đi của bu tôi quá nhiều thứ, đến nỗi chẳng còn bận lòng trước mất mát.

Sau giải phóng, đất nước yên tiếng súng nhưng nghèo xơ nghèo xác. Cả làng tôi, nhà nào cũng mất người, đàn ông ít hẳn đi, đồng áng toàn đàn bà và trẻ nhỏ gánh vác. Bu và anh em tôi còng lưng trên mảnh ruộng cằn, mưa thì úng, nắng thì cháy, nhưng hạt gạo làm ra vẫn không đủ để nhà tôi được no ấm.

Cả nhà chỉ còn ba anh em. Anh cả thì dở dang một cánh tay, từ ngày về chẳng còn làm được việc gì nặng nhọc. Anh tư khá hơn, tay chân còn đủ cả, nhưng đố ai biết được bên trong thân xác anh tôi có cơ man nào là di chứng. Trái gió trở trời anh lại nằm liệt một chỗ, nhẹ thì nằm bẹp đấy để cơm bưng nước rót vài ba ngày, nặng thì cứ la oai oái như lợn sắp bị chọc tiết. Tiếng rên la mang theo nỗi đau đi qua chiến trận lan ra khắp gian nhà.

Tôi sinh sau đẻ muộn, may mắn không phải ra chiến trường. Nhưng cũng vẫn khổ. Vừa chật vật học hành, bữa no bữa đói, có khi phải nghỉ học đi mót khoai bòn rau. Đôi khi tôi ngồi trước hiên, đặt hai tay lên đầu gối và tự hỏi mình đang học cái nghề gì của người lớn.

Bu tôi vẫn vậy, chẳng khi nào than thở. Cái dáng người gầy nhẳng, chiếc áo nâu bạc màu, tay chai sần, bu lặng lẽ như chiếc bóng. Nhiều đêm tôi thấy bu ngồi bên ngọn đèn, nhìn trân trân vào khoảng tối trước mặt. Tôi biết bu nhớ thầy, nhớ các anh chị, nhưng bu chẳng nói ra, cũng chẳng khóc. Có lẽ nỗi đau lớn quá hóa thành câm lặng.

Ngày làng có giỗ trận, người ta dựng bàn thờ vọng ngoài đình. Hương khói nghi ngút, tên tuổi ghi trên tấm bảng gỗ loang lổ. Tôi cứ ngẩn ngơ tìm từng cái tên, chẳng biết đâu mới thực sự là của anh chị mình. Anh cả đứng sau lưng tôi, khẽ bảo:

– Thôi, thắp nén hương cho tất cả, coi như cho anh em mình.

Lúc ấy tôi mới hiểu, gia đình tôi đâu chỉ mất người, mà mất cả quyền được biết người thân nằm lại nơi nào. Chiến tranh đã lấy đi hết thảy, còn lại chỉ là một mái nhà nghèo và những khoảng trống không thể lấp đầy. Cái nghèo như một cơn gió rét triền miên, len lỏi vào từng bữa cơm, từng giấc ngủ. Chúng tôi ăn bo bo thay gạo, ăn rau ăn cỏ ngoài vườn. Anh cả với cánh tay què chỉ biết quanh quẩn trong nhà ngoài ngõ, dù lúc nào anh cũng cười đùa pha trò nhưng sâu trong ánh mắt ấy tôi vẫn thấy được nét buồn rũ như tro tàn sau một đốm lửa lớn.

Thời gian làm tôi lớn lên bằng một cách thầm lặng. Nó không cho ai lời dạy, chỉ lặng lẽ rút bớt những thứ vớt vát dần dần khỏi bàn tay. Tôi học cách nhẫn nại, học cách nhìn lâu vào những thứ khiến người ta đau để thấy rõ hơn những gì còn lại: một mảnh áo, một tấm ảnh nhàu, tiếng hát nghèn nghẹn của bu.

Khi bu cất lên khúc hát cũ bằng giọng đàn bà mệt mỏi, tôi nhắm mắt, nghe từng chữ rót vào lòng. Lời bài hát như cánh tay đặt lên vai tôi. An ủi, trách móc, bảo tôi phải sống tiếp. Và dưới ánh trăng sáng trong vắt, những quả lựu ngoài sân lờ mờ như những trái tim đỏ đang thở, thở đều, như thể dặn dò tôi rằng đời vẫn tiếp diễn, dù máu đã khô trên đất.

2

Người ta vẫn bảo: “Hòa bình rồi, phải vui lên, phải dựng xây đất nước.” Nhưng tôi càng nghe càng thấy nghẹn. Hòa bình mà sao đồng ruộng vẫn bạc màu, chợ vẫn vắng người, trẻ con vẫn xanh xao như những bóng ma? Tôi biết hòa bình đắt giá nên bàn thờ nhà tôi lúc nào cũng đỏ lửa nhang khói, bóng người thân thì chẳng bao giờ trở lại. Nhưng tôi cũng dần e dè trước những câu khẩu hiệu treo đầy đường làng. Chúng rực rỡ như lời hứa của một thời đại, nhưng khi cuộc sống vẫn còn quá đói khổ, ánh sáng ấy đôi khi khiến tôi chói mắt.

Nghe đài phát những bài ca ngợi non sông gấm vóc, một tiếng hỏi dội lên trong lòng tôi: non sông gấm vóc để làm gì, khi bu tôi phải cúi rạp lưng dưới ruộng mà vẫn chẳng đủ ăn?

Nhiều đêm nằm trên chõng tre, nhìn từng giọt mưa nhỏ xuống qua mái tranh tàn tạ. Tôi thầm nghĩ, chiến tranh lấy mất thầy, mất anh chị tôi; và hậu chiến tranh vẫn đang từng ngày lấy đi cả niềm tin cuối cùng. Phải chăng tất cả những điều người ta hằng mơ tưởng - độc lập, tự do, hạnh phúc - chỉ là những chữ in trên giấy, còn đời sống thực thì tàn tạ, xơ xác như căn nhà của chúng tôi?

Đất nước hòa bình, miếng ăn lại trở thành một cuộc chiến khác. Chợ vắng hoe, tem phiếu thì phát nhưng chẳng mấy khi đổi được thịt ngon. Rồi người ta chen chúc nhau, chen đến sứt trán, rách áo, chỉ để ôm về một vài lạng đường vàng như bụi. Nhìn những đứa trẻ gầy rộc ôm bụng khóc, nhìn bu ngồi lặng lẽ với nồi cháo loãng, trong tôi có cái gì đó gãy răng rắc. Hồi trước, tôi tin hòa bình là ánh sáng. Giờ tôi chỉ thấy nó như một cái hang tối, người ta giẫm đạp lên nhau mới tìm được chút hơi thở. Tôi vẫn biết là cần thời gian để khắc phục hậu quả chiến tranh. Nhưng bao giờ? Một thoáng nghi ngờ hiện lên trong đầu, tôi còn phải chờ đến khi nào để không phải sống cuộc đời mạt rệp như thế này nữa?

Có lẽ, hòa bình không tự nhiên mang lại hạnh phúc, mà phải được gầy dựng từng chút trong gian khổ.

Từ những nghi ngờ nhỏ nhoi, tôi bắt đầu học cách đi “chợ đen”. Một tay đổi tem phiếu, một tay giấu ít ngô và trứng của nhà để mang ra bán. Lần đầu tim tôi run, mồ hôi chảy dọc sống lưng, nhưng rồi quen. Cũng chẳng còn ai nói về lý tưởng nữa, người ta chỉ thì thào về cân gạo, lít dầu, mảnh vải. Người lớn trong làng nói chuyện bằng giọng thản nhiên, như kể về mùa gặt, về số tiền gửi về. Họ nói về cái gọi là "hy sinh" bằng những câu chữ đã được mài nhẵn đến mức không còn cạnh sắc.

Có sớm nọ tôi lén giấu trong thúng hàng rong của bu ít thóc ở dưới rồi lấy khăn đậy lại, bày rau lên trên đem bán, đi ngang qua đình làng thấy khẩu hiệu đỏ rực: “Sống và làm việc theo pháp luật, theo chủ nghĩa xã hội”. Lúc đó tôi cười gượng: những chữ ấy cao vời quá, trong khi bu tôi vẫn phải nấu cháo loãng, trẻ con vẫn ôm bụng khóc đêm.

Bu thấy tôi mang về ít thịt nạc, chẳng hỏi han gì, chỉ lặng lẽ nấu nướng. Đến bữa, bu không động đũa vào một miếng thịt vụn. Anh cả lắc đầu, nhưng anh chẳng có sức nói gì hơn. Từ đó nụ cười của anh tắt ngóm, chẳng còn những câu chuyện đùa trong bữa cơm nữa. Có lẽ anh thất vọng về tôi, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác.

Còn tôi, từ chỗ run sợ, dần dần thấy lòng mình chai sạn. Tôi bắt đầu nói dối. Bắt đầu giấu giếm. Bắt đầu thấy mình khác đi, không còn là thằng út ngày nào khóc nức nở khi bu tiễn chị ra trận. Chiến tranh đã giết đi phần máu thịt của gia đình tôi. Và quan liêu bao cấp, nó đang giết nốt linh hồn tôi từng chút một. Lúc đó tôi cư tự nhủ: “Cũng là để sống thôi mà.”

Những tháng năm đó, với tem phiếu, với những chợ vắng và bếp lạnh, đã khiến tôi dần xa rời chính mình.

Lần đầu tôi đem tem phiếu ra chợ đen sau ga Hàng Cỏ, tim đập như trống. Chợ ấy lén lút, mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, mùi đất ẩm và mùi tiền lẫn vào nhau đến nghẹt thở. Những bàn tay chìa ra, nhanh, khẽ, đổi nhau mấy tờ phiếu lấy nắm bạc nhàu. Khi cầm tiền trong tay, tôi run đến mức tưởng ai đó nhìn thấy. Nhưng rồi chẳng ai nhìn. Chẳng ai quan tâm.
Lần thứ hai, thứ ba, tôi thấy mình trơn tru hơn. Tôi biết nói thách, biết lách qua ánh mắt công an khu vực, biết mua hàng ở đầu này, bán ra đầu kia kiếm thêm chút lời. Đêm về, tôi vẫn tự dỗ: “Cũng là để sống thôi mà.”

Rồi tôi trở thành con buôn trong xã hội bao cấp. Tức là buôn bán lậu, là phạm pháp.

Tôi không dám cắt đứt hoàn toàn những dây ràng buộc cũ, nhưng tôi xoay chuyển chúng cho vừa với miếng ăn. Việc nhỏ trước mắt rồi trở thành thói quen. Đổi tem, gom hàng, rồi mánh cố định với vài khách quen ở chợ huyện. Người ta thuê tôi lấy hộ mấy bao, giao hộ mấy gói, ban đầu là tiền nong, sau là quyền lực nhỏ xíu, biết trước chuyến xe nào có hàng, biết chỗ nào còn thóc. Quyền lực ấy ngon như miếng mỡ trong nồi nước canh loãng. Sự tha hóa không phải bước nhảy vọt, mà là những lần tôi tự bào chữa cho mình. “Chỉ một lần nữa thôi”, tôi nói với bản thân khi nhận lời gom cho kẻ có tiền một chuyến hàng lậu. “Chỉ để nuôi bu, để cho anh cả thuốc men.” Lời biện minh như rơm cháy, tàn tro đọng lại trên lòng tôi. Nhưng lần một kéo sang lần hai, lần hai kéo sang nhiều lần hơn nữa.

Xóm ngày càng đìu hiu, nhưng đời sống ngầm thì sôi sục. Có người nộp đơn xin đi làm ở phố để sau gửi tiền về, có người thì nhận công việc còn tối tăm hơn gây thù chuốc oán. Tôi dần nhận ra khuôn mặt hàng xóm thay đổi, những cặp mắt toan tính, những giọng nói nhỏ khi có người lạ qua. Niềm tin cũ mòn dần, thay bằng một thứ hợp đồng ngầm rằng im lặng để sống.

Rồi có lần, một người phụ nữ trong xóm là bà Hồng, góa chồng, nuôi hai đứa con, bị tố. Tin đồn lăn như đá cuội xuống sông, ai ngờ người tố lại là một bà hàng xóm cùng tổ đổi chác mà tôi vẫn làm ăn. Người ta kéo đến, bàn tán, có tiếng la ó. Tôi biết bà Hồng chẳng có sức đối chọi. Tôi cũng biết nếu bà bị xử, vài bao thóc nhỏ trong kho của tôi sẽ khó qua mắt. Tôi lặng lẽ rút lui khỏi cuộc ồn ào, nhìn bà Hồng cúi đầu, mắt như muốn nổ tung.

Người ta đến kiểm tra. Họ lục tung vài nhà, bắt một thanh niên buôn bán nhỏ. Họ hỏi, họ nạt nộ, họ ghi chép, rồi đi. Sau hôm ấy, có người trong làng biến mất một thời gian. Tin đồn rằng họ bị đưa đi để “giải quyết”. Tôi nghe, tim lạnh như đá. Tôi hiểu có những thứ không thể trả giá bằng tiền. Ví như cái nhìn của bu, cái nhìn của anh cả, cái nhìn của những người đã hy sinh mà tôi mang tên họ trong miệng.
3

Tôi bắt đầu thỏa thuận với nỗi sợ. Thỏa thuận với cán bộ địa phương để có chỗ trú cho hàng, thỏa thuận với vài tay to để họ bẫy những người yếu hơn. Đổi lại, họ cho tôi vùng an toàn. Tôi biết mình đã bán một phần linh hồn, nhưng điều khủng khiếp là tôi không còn thấy đau và tự chất vấn lương tâm nữa. Đau đã biến thành thói quen, thói quen thành công việc.

Bu vẫn lặng lẽ ngồi buổi tối bên bếp, đôi mắt của bu như chứa cả một đêm dài không nguôi. Tôi mang về nhà những thứ tốt hơn trước, thịt khô, gói đường. Nhưng tôi biết những thứ đó có mùi của máu, của im lặng. Anh cả nhìn tôi khác đi, nhưng anh không dám nói. Có lần anh hỏi, giọng nhỏ như tiếng thở: “Mày có còn nhớ thầy không?” Tôi úp mặt vào bát cơm rồi lùa vào mồm từng ngụm lớn để né tránh. Những ký ức về thầy, về các chị, bỗng trở nên xa lạ như một tấm ảnh cũ ố vàng. Tôi cười, tránh ánh mắt ấy. Cái nhìn của anh, hiền như nước giếng sau nhà, mà tôi thì thấy mình như kẻ sắp chết đuối.

Từ đó, tôi trượt. Không nhanh, không ồn ào, mà chậm rãi, êm ru như bánh xe lăn xuống dốc trong sương. Tôi học cách nhắm mắt trước những điều mình biết là sai. Tôi cười nói dễ dàng, mặc cả dễ dàng, và dối trá dễ dàng.
Có đêm tôi mơ thấy mình ngồi dưới gốc lựu cũ, tay nhuốm màu đỏ tươi như máu. Hoa rụng đầy vai. Tôi cố gắng lau đi nhưng màu đỏ ấy càng lan, càng thẫm. Tỉnh dậy, mồ hôi lạnh ướt cả gối. Ngoài sân, cây lựu già vẫn trĩu quả, đỏ rực trong bóng trăng, như đang nhìn tôi, lặng lẽ, buồn bã. Tôi nghe tiếng mưa thấm qua mái tranh. Mưa rơi, nhưng tiếng nó giờ chẳng còn rửa sạch được gì. Tôi không còn biết chắc điều gì là đúng, điều gì là sai. Chỉ biết rằng mỗi lần soi gương, tôi thấy khuôn mặt lạ lẫm nhìn lại mình, của một người từng tin vào điều tử tế. Có lẽ tôi không đơn độc, biết bao người sau chiến tranh cũng đang sống với những bản ngã vụn vỡ. Chúng tôi không phản bội tổ quốc, mà chỉ đang cố sống sót giữa một thời hậu chiến còn lắm vết thương.

Tôi không trách ai, chỉ sợ những người đã ngã xuống không hề nghĩ rằng những kẻ ở lại lại phải sống bằng cách này… mài mòn thiện lương bởi nhu cầu.

Với một đất nước mà con cháu của họ lớn lên bằng mánh khoé và im lặng. Tôi không có câu trả lời, chỉ biết rằng mỗi lần mở mồm, tôi càng thấy hẹp. Lời nói đã trở thành thứ phải tính toán. Tôi nhận ra sự tha hóa của mình đã vượt quá tầm tay sửa chữa thông thường. Nó đã ăn sâu, thấm vào máu, khiến mọi thứ tôi chạm vào đều có mùi tiền bạc và nỗi xấu hổ.

Một đứa trẻ hàng xóm, con của bà Hồng tìm đến nhà tôi, nó biết tôi đi buôn nên nhờ chuyển thư cho mẹ. Đó là một lá thư nhỏ, mép mực lem nhem. Đứa trẻ đưa cho tôi bằng hai tay run rẩy, mắt nó nhìn thẳng vào tôi như nhìn thẳng vào một tấm gương. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy rõ khuôn mặt mình, không phải là người từng khóc tiễn biệt, mà là một kẻ đã bán đứng quá nhiều thứ. Tôi không nhận lá thư. Tôi nói dối rằng mình có việc bận một thời gian không lên tỉnh. Đứa trẻ quay đi, vai nó nhỏ xíu, bước đi bị uốn cong bởi một nỗi thất vọng chưa trưởng thành.

Tôi bước vào ngày mà mình biết không thể quay lại đường cũ nữa. Những lựa chọn giờ đây là đong đếm. Tiếp tục con đường đã chọn, hay dám đối diện với những tàn dư của chính mình. Nhưng con đường đầu tiên vẫn gần, ấm và đầy hứa hẹn trong cách nó cho tôi miếng ăn ngay lập tức. Còn con đường thứ hai lại lạnh và rỗng, như những khẩu hiệu treo trên đình làng.

Tôi nhắm mắt, nghe tiếng mưa như một lời kết chưa nói. Trong lòng, một thứ gì đó đã chết. Và có lẽ, sẽ có những thứ tiếp theo phải chết nữa. Thầy và các anh chị tôi chết với nụ cười, tôi tin là vì họ tin vào lý tưởng. Chính vì thế, sự vỡ vụn của tôi mới đau đến thế. Nếu chúng tôi từng dối trá ngay từ đầu, có lẽ chẳng đau gì khi dối trá lần nữa.

4

Cây lựu trong sân nhà tôi hôm nay đã chết, giữa tháng sáu. Tôi đứng nhìn nó, không còn cảm thấy gì ngoài một khoảng trống lạnh lẽo. Có lẽ, cùng với nó, thứ còn sót lại cuối cùng trong tôi cũng đã chết.

Tôi biết nó sắp đi từ mấy hôm trước, khi những bông hoa cuối cùng thôi rụng mà cứ héo quắt lại, như miệng người hấp hối cố muốn nói gì đó rồi thôi. Lá chuyển màu tro, xao xác trong gió, còn rễ bắt đầu trồi lên khỏi mặt đất, xơ xác.
Bu mất đã hai mùa rồi. Gian nhà vẫn còn nguyên cái chõng tre bu nằm hát, chỉ khác là chẳng còn ai ngồi. Tôi hay vứt đồ đạc ngổn ngang lên đó, mấy cuộn vải, bao thuốc lá, những thứ hàng hóa không giấy tờ. Tro bụi rơi dày, trông như phủ khăn tang.
Buổi sáng cây lựu gãy, tôi đang đếm tiền. Một con chuột chạy ngang qua làm đổ chồng bạc. Tiền rơi tung tóe, trộn với đất đỏ và xác quả lựu rữa, dính nhẹp như bùn. Tôi ngồi sụp xuống, nhặt từng tờ, thổi hết đất cát, xếp lại ngay ngắn. Mùi lên men của quả chín khiến tôi nhức đầu, nhưng tôi vẫn nhặt, rất cẩn thận, không để sót tờ nào.
Đêm đó, tôi đốt cây. Cành cháy lẹt xẹt, lửa ăn chậm, khói nồng đến nghẹt thở. Tôi ngồi cạnh, nhìn khói quấn quanh mình, cay mắt mà chẳng biết do khói hay do gì khác.
Trong làn khói, tôi thấy bóng bu thấp thoáng, không rõ thật hay mộng. Bu quay lưng, ngồi hát khe khẽ, giọng như gió lùa qua những trái lựu khô rỗng hạt. Tôi đưa tay định chạm, nhưng chỉ chạm được vào tro nóng.
Đêm đó, tôi thức trắng. Sáng ra, gió lùa qua sân trống, rắc tro lựu lên tóc, lên áo. Tôi không phủi.
Chiều xuống, tôi ra ga. Người ta gọi tôi bằng tên khác, tên tôi dùng trong những chuyến hàng lậu. Tôi quay lại, đáp rất tự nhiên.
Khi tàu hú còi, tôi chợt nhớ gốc lựu, giờ chỉ còn một vệt cháy sém dưới đất. Tôi không quay lại. Nhưng trong đầu bất chợt vọng lên một tiếng gì đó, như tiếng quả rụng, khô và nặng, chạm xuống đất, vỡ ra.

Tôi không biết đó là tiếng của đất, hay của linh hồn mình.

RÉT XUÂN HÀ NỘI & HƠI THỞ MOSCOW1: Hồi hương.Hơn chín tiếng bay ròng rã từ Moscow về Hà Nội. Tôi tỉnh giấc khi lời bài h...
03/09/2025

RÉT XUÂN HÀ NỘI & HƠI THỞ MOSCOW

1: Hồi hương.

Hơn chín tiếng bay ròng rã từ Moscow về Hà Nội. Tôi tỉnh giấc khi lời bài hát "Hello Việt Nam" cất lên khiến lòng mình chộn rộn. Đưa mắt nhìn ra cửa sổ, tôi thấy quê hương đang chào đón mình bằng cơn mưa xuân. Mưa lớt phớt, những giọt nước đua nhau đập vào cửa sổ máy bay rồi trượt dài, trong vắt.

Đáp xuống mặt đất, tôi và những người cùng chuyến đều không khỏi run cầm cập. Mấy cô gái tóc vàng mắt xanh đeo khăn choàng đỏ phía trước tôi vừa đi vừa suýt xoa, họ cứ ôm vai rồi run lên, má thì ửng đỏ chẳng khác gì khi ở trong trời tuyết xứ Nga. Mọi người cứ thế ồ ạt kéo nhau lên xe trung chuyển vào sân bay, đến khi yên vị, tốp người ngoại quốc ấy mới bắt đầu bàn tán về thời tiết Hà Nội.

- Rét căm luôn đấy. Khiếp thật! - Một cô gái nói tiếng Anh với bạn mình bằng giọng Nga đặc trưng.

- Không rét bằng chỗ tụi mình, nhưng ẩm ướt thế này khó chịu quá! - Cô bạn cũng đáp lại, rồi lấy khăn quấn thêm một vòng lên cổ để giấu đi đôi tai đỏ bừng.

Câu chuyện của họ cứ kéo dài mãi đến khi xe dừng trước cửa ga quốc tế. Lúc người ta ùa ra khỏi xe, tôi cứ ngỡ mình bị nhấn chìm bởi tiếng lộp cộp của đế giày da chồng chéo lên nhau. Có những bước chân hấp tấp hối hả, cũng có những bước đi thong d**g. Như cánh chim lạc đàn nhiều năm bỗng tìm được đường về với nguồn cội, tôi cố gắng hòa vào dòng người bằng cách chậm rãi nhất, và hít thở sâu nhất.

Mười năm, đủ để tôi không còn nhận ra đây là nơi từng chứng kiến cha mẹ tôi vỡ oà.

Hơi lạnh phả thẳng vào mặt làm tôi phải rùng mình. Sảnh sân bay sáng rực đèn trắng, rộng và ken đặc người, cùng với tiếng loa thông báo, tiếng vali lăn lạo xạo trên nền gạch càng làm nổi bật sự xôn xao ngày cận Tết.

Tôi chen qua một nhóm khách du lịch đang cười nói rôm rả, tới băng chuyền lấy hành lý. Những chiếc vali đen, xanh, xám nối đuôi nhau trượt ra như đàn cá sắt. Hành lý của tôi không nhiều, vỏn vẹn một chiếc vali kí gửi size 28 và một cái ba lô xách tay vừa vặn.Tôi kéo vali xuống rất nhẹ nhàng, nhưng bánh xe cứ nặng nề lăn theo sau.

Lần đầu tiên tôi đi một chuyến bay dài như thế mà chỉ có một mình.

Biết có người tới đón, tôi lấy hành lý xong là đi luôn ra sảnh. Chẳng mất nhiều thời gian, tôi đã thấy anh. Boris đứng đó, tay ôm một bó hoa hồng đỏ rất to. Anh trông cao lớn hơn hẳn đám đông, mái tóc màu vàng choé và đôi mắt lam cứ ngơ ngác nhìn quanh. Đôi mắt ấy loang ánh sáng, ngơ ngác như một đứa trẻ đi lạc giữa chợ.

Khi chúng tôi chạm mắt nhau, gương mặt Boris lập tức sáng bừng. Anh vẫy tay cao trên đầu, miệng cười toe toét. Cái dáng vẫy tay ngốc nghếch ấy, giữa đám đông người xa lạ khiến lòng tôi mềm lại. Giữa biển người, chỉ có một cánh tay vẫy lên. Tim tôi chao đảo, nhung nhớ và tủi thân mà tôi giấu nhẹm đi bỗng được gọi về, chúng cứ ùn ùn kéo đến như sấm làm mắt tôi đổ cơn mưa.

Tôi kéo vali bước nhanh hơn về phía anh, mà anh cũng vội vàng chạy tới. Khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận rõ nhịp tim mình hòa lẫn vào tiếng ồn ào náo nhiệt của sân bay. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau như cách mà bất kỳ cặp đôi yêu xa nào cũng làm vậy. Thương nhớ chất chồng chất đống nhiều ngày đã vỡ oà trong phút chốc. Anh ghì chặt tôi vào lồng ngực, rải rác lung tung thật nhiều những cái hôn trên đỉnh đầu.

Giống hệt như lúc còn ở Moscow, trên người Boris cứ thoang thoảng hương nắng sớm, lúc nào cũng dịu nhẹ. Trái lại với mùi hương ấy, tính cách của anh vô cùng nồng nhiệt.

Rất nhanh, chúng tôi buông nhau ra. Boris cười tươi đưa hoa cho tôi. Anh hỏi:

- Khăn cổ em đâu? - Không để tôi trả lời, anh vội kéo chiếc khăn trên cổ mình xuống rồi quàng lên cổ tôi. - Lạnh đấy!

Tôi cười khẽ, giữ lấy bàn tay to bè của anh đang loay hoay kéo khăn cho tôi mà che hết cả nửa mặt.

- Boris, em thở thế nào được?

Anh vội buông ra, mắt xanh mở to ngơ ngác, rồi ngượng nghịu gãi sau gáy, anh cười:

- Ấm!

Nói xong lại hấp tấp giành lấy cả vali lẫn ba lô của tôi, thấy tôi muốn kéo lại, anh hất đầu, lắc lắc mái tóc vàng rối bù:

- Không được! Em... prince. - Nói rồi lại chỉ tay vào mình. - Anh... strong man. Gentleman!

Tôi phì cười:

- Thế em nhờ anh.

Đi qua dãy gương dài, tôi thấy mình và Boris trong đó. Tôi thì nhỏ thó, đi bên cạnh anh chàng cao lớn, vừa đi anh ta vừa lóng ngóng cười toe, cứ loay hoay che chắn, chỉnh khăn, kéo hành lý cho tôi. Tôi kéo Boris đứng lại trước gương, rồi chụp lại khoảnh khắc ấy.

Bước ra khỏi cửa ga, đã có xe chờ sẵn. Boris đi chung với Minh Quân và Victor tới đón. Victor lái xe, cậu chàng vừa thấy tôi đã lên tiếng chào hỏi:

- Chào anh.

- Ừ, chào em. Em là bạn của Quân nhỉ? Anh là Dũng. - Tôi và Victor bắt tay nhau.

- Vâng, em là Victor. Quân có kể về anh, em cũng lâu lắm rồi mới về Hà Nội.

Sau đó tôi với cậu chàng người Pháp này chỉ xã giao đại khái vài câu.

Boris say xe nên Victor hạ kính suốt chặng đường. Gió lạnh ùa vào mang theo mùi hoa tươi, mùi khói xe lẫn trong không khí ẩm ướt. Ngoài kia, không khí Tết rộn ràng đến mức tim tôi cũng rung theo. Dọc vỉa hè, từng xe chở đào, chở quất chen chúc, những chùm hoa giấy đỏ hồng rung rinh trong gió. Tiếng rao bán hàng lẫn với tiếng còi xe, tiếng cười nói xôn xao. Lồng ngực tôi phập phồng, nghe được cả tiếng tim đập.

Tôi còn nhớ năm mình học cấp ba. Đường sá Hà Nội chỉ toàn xe đạp với xích lô, vài ba con dream nổ bành bạch trên đường đủ để tôi và lũ bạn phải trố mắt nhìn. Bây giờ nhìn đường phố đỏ rực trong sắc xuân với nhiều đổi mới, tôi thấy quê hương cũng đang đỏ au như trái tim mình.

Dù đã về trước hai tháng, Boris vẫn tròn xoe đôi mắt nhìn khắp nơi như một đứa trẻ lạc vào hội chợ. Anh nhìn theo những cành đào hồng rực trên chiếc xe ba gác chất đầy, huých nhẹ vào tay tôi, líu ríu:

- Đẹp quá! Pink tree, hoa đào! For New Year.

Tôi gật đầu: - Ừ, hoa đào cho năm mới. Năm mới ý.

- Năm mới là Lunar New Year, hehe.

Nghe người ta bập bẹ, Quân ngồi ghế trước quay xuống cảm thán:

- Ơi giời giỏi thế?

Boris hất cằm nói: - Chả giỏi! - Làm cả đám cười nghiêng ngả.

Mồm miệng Boris cứ liến thoắng, vừa nói vừa xoay cổ nhìn hết quầy hoa này sang quầy hoa khác, suýt xoa Hà Nội đẹp quá.

- Lão này như thế suốt hai tháng rồi đấy, lần nào ra đường cũng thế. - Quân nói.

Tôi xoa xoa đầu Boris trả lời: - Ừ, mấy hôm toàn gọi video cho anh khoe suốt. Thích tợn rồi.

Boris hắng giọng: - Chả thích!

Quân lại trêu chọc: - Chả thích hay chả thích?

Cả đám chúng tôi lại cười đến ngất trên xe.

Trên xe, Boris thỉnh thoảng lại gõ gõ ngón tay, chỉ trỏ như một đứa trẻ phát hiện kho báu. Nhìn thấy một tiệm hoa trưng đầy cành tuyết mai, anh reo lên:

- Đẹp quá!

Vẻ háo hức ấy khiến tôi vừa buồn cười vừa thấy thương. Boris vốn cao lớn, vai rộng, bước chân mạnh mẽ thế mà cứ như cậu bé mới lần đầu đi hội chợ, loay hoay muốn ghi nhớ từng chi tiết. Đến khi xe dừng chờ đèn đỏ, anh còn cố rướn cổ ra cửa sổ hít một hơi thật sâu, ngực phồng lên, rồi quay sang tôi cười rạng rỡ:

- Hà Nội đẹp! Smell like… home.

Victor lái xe phía trước bật cười:
- Boris, ông ra đường lần nào cũng bảo "smell like home". Home của ông ở Nga cũng smell giống vậy hả?

Boris cãi: - Home của Dũng ý!

Anh nói, lóng ngóng nhưng chân thành, làm lòng tôi dịu lại giữa dòng xe cộ chen chúc. Ngoài kia, Hà Nội giáp Tết xôn xao, đèn trang trí nhấp nháy trên từng con phố, mùi bánh chưng mới gói, mùi quất chín, mùi hương trầm phảng phất. Trong xe, có một gã cao to nhưng cứ cuống quýt khi thấy cảnh đẹp.

Tôi tựa đầu lên vai Boris, lặng im nghe nhịp thở và tiếng cười nói của mọi người. Bỗng, Quân lên tiếng:

- Anh có về nhà luôn không? Chú thím chưa biết hôm nay anh về đâu.

Tôi khựng lại, nụ cười trên môi cũng tắt ngóm. Một khoảng lặng mỏng tang, lạnh hơn cả mưa bụi ngoài kia.

Address

Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ngọc Đoàn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share