13/11/2025
MÙA LỰU CHÍN
1
Người ta báo về rằng lạc mất thầy tôi trong một trận oanh tạc. Không ai bảo gì, nhưng ai cũng biết hai chữ "lạc mất" kia đồng nghĩa với việc chúng tôi đã mất đi thầy mãi mãi. Còn các anh tôi, người thì đã xuất ngũ để về với bu và các em, người thì...
"Rải rác biên cương mồ viễn xứ."
Lần lượt nhận giấy báo tử, bu tôi không khóc lấy một lần. Chỉ lẳng lặng ngồi trên chõng tre dưới gốc lựu, hát bài "Mẹ yêu con".
Nhà tôi ngày trước tổng cộng tám anh chị em, gồm năm anh và hai chị, tôi là út mót. Sau khi lạc mất thầy, các anh tôi lại lần lượt lên đường theo tiếng gọi của tổ quốc, cứ giấy báo về là đi, bởi các anh tin rằng mình là "lá" trên rừng trong khúc hát Lá xanh.
"Lá còn xanh như anh đang còn trẻ
Lá trên cành như anh trong đoàn quân
Gió rung cây cành lá tưng bừng đùa vui
Anh trai làng có đi chiến dịch mùa xuân
Anh là lá trên cành ngại chi gió mưa
Anh là trai phải ra chiến trận phen này."
Từng người, từng người một dần mất hút. Ấy thế mà đến khi hai chị tôi quyết đi xung phong, bu lại chẳng can, cũng không rơi một giọt lệ.
Ngày ấy khốn khó, tôi khóc nhiều đến nỗi bu phát cáu. Nghèo khổ và đói rét cứ bòn dần, bòn dần tinh thần chúng tôi qua từng ngày. Nhà chỉ còn lại ba anh em, thỉnh thoảng anh cả và anh tư kể cho tôi nghe về những "chiến tích" của mình bằng giọng đùa hợm hĩnh. Anh tư hay kể về thằng cu em ra trận mà súng không biết cầm, cò chưa dám bóp, dạy mãi không khôn ra nổi.
"Thằng đấy ngu lắm, may mà vào được tiểu đội tao nhiều cựu cán, chứ không thì nó chết cụ ngay lúc vừa qua sông rồi. Dốt ơi dốt! Mà kể có nó cũng vui. Tao sống qua được hơn tám chục ngày ở Thành cổ mà chẳng ngày nào tao có cảm giác của người đang sống, bốn bề đều là máu thịt, nhìn đâu cũng đỏ lòm như địa ngục trần gian. Không có cái thằng khù khờ đấy đi theo, lắm lúc tao còn tưởng mình là ma ấy chứ."
Nhưng càng kể càng ứa nước mắt.
"Nó chết, trước mắt anh em tao. Tao thấy rõ nó đang nhìn, cười tươi lắm! Đó là lúc lũ khốn kia được đà đánh hăng. Thế là nó tan xác. Hôm sau bọn tao đào được đầu của nó, chỉ vừa thấy lấp ló cái vạt áo xanh sờn là anh em túi bụi moi hết đất xung quanh lên, đất cát lạo xạo chen vào kẽ móng tay đau nhói mà vẫn cứ moi. Thi thể không vẹn nguyên trông rợn óc, thế mà thằng nào cũng sấn vào ôm rồi khóc như cha chết. Bọn tao kéo nhau nhặt nhạnh lại những gì còn sót lại để chôn cất cho nó được yên nghỉ tử tế. Mà khốn nạn! Mộ hôm nay chôn ngày mai lại bị bom đạn cày xới tung hết lên, đất cát lại lẫn chung với máu thịt nhoe nhoét."
Anh tư nói rồi nghẹn lời, tay bấu chặt vào vành chõng như muốn giữ cho mình khỏi ngã. Tôi ngoảnh mặt nhìn sang bên kia sân để làm dịu xuống cơn g*i ốc, thấy lựu chín đỏ lầm lũi trên cành, những quả ấy như đang chảy từng giọt máu nhỏ xuống mặt đất. Còn bu thì chỉ nằm im, mắt như đã mù lặng đi. Chiến tranh cướp đi của bu tôi quá nhiều thứ, đến nỗi chẳng còn bận lòng trước mất mát.
Sau giải phóng, đất nước yên tiếng súng nhưng nghèo xơ nghèo xác. Cả làng tôi, nhà nào cũng mất người, đàn ông ít hẳn đi, đồng áng toàn đàn bà và trẻ nhỏ gánh vác. Bu và anh em tôi còng lưng trên mảnh ruộng cằn, mưa thì úng, nắng thì cháy, nhưng hạt gạo làm ra vẫn không đủ để nhà tôi được no ấm.
Cả nhà chỉ còn ba anh em. Anh cả thì dở dang một cánh tay, từ ngày về chẳng còn làm được việc gì nặng nhọc. Anh tư khá hơn, tay chân còn đủ cả, nhưng đố ai biết được bên trong thân xác anh tôi có cơ man nào là di chứng. Trái gió trở trời anh lại nằm liệt một chỗ, nhẹ thì nằm bẹp đấy để cơm bưng nước rót vài ba ngày, nặng thì cứ la oai oái như lợn sắp bị chọc tiết. Tiếng rên la mang theo nỗi đau đi qua chiến trận lan ra khắp gian nhà.
Tôi sinh sau đẻ muộn, may mắn không phải ra chiến trường. Nhưng cũng vẫn khổ. Vừa chật vật học hành, bữa no bữa đói, có khi phải nghỉ học đi mót khoai bòn rau. Đôi khi tôi ngồi trước hiên, đặt hai tay lên đầu gối và tự hỏi mình đang học cái nghề gì của người lớn.
Bu tôi vẫn vậy, chẳng khi nào than thở. Cái dáng người gầy nhẳng, chiếc áo nâu bạc màu, tay chai sần, bu lặng lẽ như chiếc bóng. Nhiều đêm tôi thấy bu ngồi bên ngọn đèn, nhìn trân trân vào khoảng tối trước mặt. Tôi biết bu nhớ thầy, nhớ các anh chị, nhưng bu chẳng nói ra, cũng chẳng khóc. Có lẽ nỗi đau lớn quá hóa thành câm lặng.
Ngày làng có giỗ trận, người ta dựng bàn thờ vọng ngoài đình. Hương khói nghi ngút, tên tuổi ghi trên tấm bảng gỗ loang lổ. Tôi cứ ngẩn ngơ tìm từng cái tên, chẳng biết đâu mới thực sự là của anh chị mình. Anh cả đứng sau lưng tôi, khẽ bảo:
– Thôi, thắp nén hương cho tất cả, coi như cho anh em mình.
Lúc ấy tôi mới hiểu, gia đình tôi đâu chỉ mất người, mà mất cả quyền được biết người thân nằm lại nơi nào. Chiến tranh đã lấy đi hết thảy, còn lại chỉ là một mái nhà nghèo và những khoảng trống không thể lấp đầy. Cái nghèo như một cơn gió rét triền miên, len lỏi vào từng bữa cơm, từng giấc ngủ. Chúng tôi ăn bo bo thay gạo, ăn rau ăn cỏ ngoài vườn. Anh cả với cánh tay què chỉ biết quanh quẩn trong nhà ngoài ngõ, dù lúc nào anh cũng cười đùa pha trò nhưng sâu trong ánh mắt ấy tôi vẫn thấy được nét buồn rũ như tro tàn sau một đốm lửa lớn.
Thời gian làm tôi lớn lên bằng một cách thầm lặng. Nó không cho ai lời dạy, chỉ lặng lẽ rút bớt những thứ vớt vát dần dần khỏi bàn tay. Tôi học cách nhẫn nại, học cách nhìn lâu vào những thứ khiến người ta đau để thấy rõ hơn những gì còn lại: một mảnh áo, một tấm ảnh nhàu, tiếng hát nghèn nghẹn của bu.
Khi bu cất lên khúc hát cũ bằng giọng đàn bà mệt mỏi, tôi nhắm mắt, nghe từng chữ rót vào lòng. Lời bài hát như cánh tay đặt lên vai tôi. An ủi, trách móc, bảo tôi phải sống tiếp. Và dưới ánh trăng sáng trong vắt, những quả lựu ngoài sân lờ mờ như những trái tim đỏ đang thở, thở đều, như thể dặn dò tôi rằng đời vẫn tiếp diễn, dù máu đã khô trên đất.
2
Người ta vẫn bảo: “Hòa bình rồi, phải vui lên, phải dựng xây đất nước.” Nhưng tôi càng nghe càng thấy nghẹn. Hòa bình mà sao đồng ruộng vẫn bạc màu, chợ vẫn vắng người, trẻ con vẫn xanh xao như những bóng ma? Tôi biết hòa bình đắt giá nên bàn thờ nhà tôi lúc nào cũng đỏ lửa nhang khói, bóng người thân thì chẳng bao giờ trở lại. Nhưng tôi cũng dần e dè trước những câu khẩu hiệu treo đầy đường làng. Chúng rực rỡ như lời hứa của một thời đại, nhưng khi cuộc sống vẫn còn quá đói khổ, ánh sáng ấy đôi khi khiến tôi chói mắt.
Nghe đài phát những bài ca ngợi non sông gấm vóc, một tiếng hỏi dội lên trong lòng tôi: non sông gấm vóc để làm gì, khi bu tôi phải cúi rạp lưng dưới ruộng mà vẫn chẳng đủ ăn?
Nhiều đêm nằm trên chõng tre, nhìn từng giọt mưa nhỏ xuống qua mái tranh tàn tạ. Tôi thầm nghĩ, chiến tranh lấy mất thầy, mất anh chị tôi; và hậu chiến tranh vẫn đang từng ngày lấy đi cả niềm tin cuối cùng. Phải chăng tất cả những điều người ta hằng mơ tưởng - độc lập, tự do, hạnh phúc - chỉ là những chữ in trên giấy, còn đời sống thực thì tàn tạ, xơ xác như căn nhà của chúng tôi?
Đất nước hòa bình, miếng ăn lại trở thành một cuộc chiến khác. Chợ vắng hoe, tem phiếu thì phát nhưng chẳng mấy khi đổi được thịt ngon. Rồi người ta chen chúc nhau, chen đến sứt trán, rách áo, chỉ để ôm về một vài lạng đường vàng như bụi. Nhìn những đứa trẻ gầy rộc ôm bụng khóc, nhìn bu ngồi lặng lẽ với nồi cháo loãng, trong tôi có cái gì đó gãy răng rắc. Hồi trước, tôi tin hòa bình là ánh sáng. Giờ tôi chỉ thấy nó như một cái hang tối, người ta giẫm đạp lên nhau mới tìm được chút hơi thở. Tôi vẫn biết là cần thời gian để khắc phục hậu quả chiến tranh. Nhưng bao giờ? Một thoáng nghi ngờ hiện lên trong đầu, tôi còn phải chờ đến khi nào để không phải sống cuộc đời mạt rệp như thế này nữa?
Có lẽ, hòa bình không tự nhiên mang lại hạnh phúc, mà phải được gầy dựng từng chút trong gian khổ.
Từ những nghi ngờ nhỏ nhoi, tôi bắt đầu học cách đi “chợ đen”. Một tay đổi tem phiếu, một tay giấu ít ngô và trứng của nhà để mang ra bán. Lần đầu tim tôi run, mồ hôi chảy dọc sống lưng, nhưng rồi quen. Cũng chẳng còn ai nói về lý tưởng nữa, người ta chỉ thì thào về cân gạo, lít dầu, mảnh vải. Người lớn trong làng nói chuyện bằng giọng thản nhiên, như kể về mùa gặt, về số tiền gửi về. Họ nói về cái gọi là "hy sinh" bằng những câu chữ đã được mài nhẵn đến mức không còn cạnh sắc.
Có sớm nọ tôi lén giấu trong thúng hàng rong của bu ít thóc ở dưới rồi lấy khăn đậy lại, bày rau lên trên đem bán, đi ngang qua đình làng thấy khẩu hiệu đỏ rực: “Sống và làm việc theo pháp luật, theo chủ nghĩa xã hội”. Lúc đó tôi cười gượng: những chữ ấy cao vời quá, trong khi bu tôi vẫn phải nấu cháo loãng, trẻ con vẫn ôm bụng khóc đêm.
Bu thấy tôi mang về ít thịt nạc, chẳng hỏi han gì, chỉ lặng lẽ nấu nướng. Đến bữa, bu không động đũa vào một miếng thịt vụn. Anh cả lắc đầu, nhưng anh chẳng có sức nói gì hơn. Từ đó nụ cười của anh tắt ngóm, chẳng còn những câu chuyện đùa trong bữa cơm nữa. Có lẽ anh thất vọng về tôi, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác.
Còn tôi, từ chỗ run sợ, dần dần thấy lòng mình chai sạn. Tôi bắt đầu nói dối. Bắt đầu giấu giếm. Bắt đầu thấy mình khác đi, không còn là thằng út ngày nào khóc nức nở khi bu tiễn chị ra trận. Chiến tranh đã giết đi phần máu thịt của gia đình tôi. Và quan liêu bao cấp, nó đang giết nốt linh hồn tôi từng chút một. Lúc đó tôi cư tự nhủ: “Cũng là để sống thôi mà.”
Những tháng năm đó, với tem phiếu, với những chợ vắng và bếp lạnh, đã khiến tôi dần xa rời chính mình.
Lần đầu tôi đem tem phiếu ra chợ đen sau ga Hàng Cỏ, tim đập như trống. Chợ ấy lén lút, mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, mùi đất ẩm và mùi tiền lẫn vào nhau đến nghẹt thở. Những bàn tay chìa ra, nhanh, khẽ, đổi nhau mấy tờ phiếu lấy nắm bạc nhàu. Khi cầm tiền trong tay, tôi run đến mức tưởng ai đó nhìn thấy. Nhưng rồi chẳng ai nhìn. Chẳng ai quan tâm.
Lần thứ hai, thứ ba, tôi thấy mình trơn tru hơn. Tôi biết nói thách, biết lách qua ánh mắt công an khu vực, biết mua hàng ở đầu này, bán ra đầu kia kiếm thêm chút lời. Đêm về, tôi vẫn tự dỗ: “Cũng là để sống thôi mà.”
Rồi tôi trở thành con buôn trong xã hội bao cấp. Tức là buôn bán lậu, là phạm pháp.
Tôi không dám cắt đứt hoàn toàn những dây ràng buộc cũ, nhưng tôi xoay chuyển chúng cho vừa với miếng ăn. Việc nhỏ trước mắt rồi trở thành thói quen. Đổi tem, gom hàng, rồi mánh cố định với vài khách quen ở chợ huyện. Người ta thuê tôi lấy hộ mấy bao, giao hộ mấy gói, ban đầu là tiền nong, sau là quyền lực nhỏ xíu, biết trước chuyến xe nào có hàng, biết chỗ nào còn thóc. Quyền lực ấy ngon như miếng mỡ trong nồi nước canh loãng. Sự tha hóa không phải bước nhảy vọt, mà là những lần tôi tự bào chữa cho mình. “Chỉ một lần nữa thôi”, tôi nói với bản thân khi nhận lời gom cho kẻ có tiền một chuyến hàng lậu. “Chỉ để nuôi bu, để cho anh cả thuốc men.” Lời biện minh như rơm cháy, tàn tro đọng lại trên lòng tôi. Nhưng lần một kéo sang lần hai, lần hai kéo sang nhiều lần hơn nữa.
Xóm ngày càng đìu hiu, nhưng đời sống ngầm thì sôi sục. Có người nộp đơn xin đi làm ở phố để sau gửi tiền về, có người thì nhận công việc còn tối tăm hơn gây thù chuốc oán. Tôi dần nhận ra khuôn mặt hàng xóm thay đổi, những cặp mắt toan tính, những giọng nói nhỏ khi có người lạ qua. Niềm tin cũ mòn dần, thay bằng một thứ hợp đồng ngầm rằng im lặng để sống.
Rồi có lần, một người phụ nữ trong xóm là bà Hồng, góa chồng, nuôi hai đứa con, bị tố. Tin đồn lăn như đá cuội xuống sông, ai ngờ người tố lại là một bà hàng xóm cùng tổ đổi chác mà tôi vẫn làm ăn. Người ta kéo đến, bàn tán, có tiếng la ó. Tôi biết bà Hồng chẳng có sức đối chọi. Tôi cũng biết nếu bà bị xử, vài bao thóc nhỏ trong kho của tôi sẽ khó qua mắt. Tôi lặng lẽ rút lui khỏi cuộc ồn ào, nhìn bà Hồng cúi đầu, mắt như muốn nổ tung.
Người ta đến kiểm tra. Họ lục tung vài nhà, bắt một thanh niên buôn bán nhỏ. Họ hỏi, họ nạt nộ, họ ghi chép, rồi đi. Sau hôm ấy, có người trong làng biến mất một thời gian. Tin đồn rằng họ bị đưa đi để “giải quyết”. Tôi nghe, tim lạnh như đá. Tôi hiểu có những thứ không thể trả giá bằng tiền. Ví như cái nhìn của bu, cái nhìn của anh cả, cái nhìn của những người đã hy sinh mà tôi mang tên họ trong miệng.
3
Tôi bắt đầu thỏa thuận với nỗi sợ. Thỏa thuận với cán bộ địa phương để có chỗ trú cho hàng, thỏa thuận với vài tay to để họ bẫy những người yếu hơn. Đổi lại, họ cho tôi vùng an toàn. Tôi biết mình đã bán một phần linh hồn, nhưng điều khủng khiếp là tôi không còn thấy đau và tự chất vấn lương tâm nữa. Đau đã biến thành thói quen, thói quen thành công việc.
Bu vẫn lặng lẽ ngồi buổi tối bên bếp, đôi mắt của bu như chứa cả một đêm dài không nguôi. Tôi mang về nhà những thứ tốt hơn trước, thịt khô, gói đường. Nhưng tôi biết những thứ đó có mùi của máu, của im lặng. Anh cả nhìn tôi khác đi, nhưng anh không dám nói. Có lần anh hỏi, giọng nhỏ như tiếng thở: “Mày có còn nhớ thầy không?” Tôi úp mặt vào bát cơm rồi lùa vào mồm từng ngụm lớn để né tránh. Những ký ức về thầy, về các chị, bỗng trở nên xa lạ như một tấm ảnh cũ ố vàng. Tôi cười, tránh ánh mắt ấy. Cái nhìn của anh, hiền như nước giếng sau nhà, mà tôi thì thấy mình như kẻ sắp chết đuối.
Từ đó, tôi trượt. Không nhanh, không ồn ào, mà chậm rãi, êm ru như bánh xe lăn xuống dốc trong sương. Tôi học cách nhắm mắt trước những điều mình biết là sai. Tôi cười nói dễ dàng, mặc cả dễ dàng, và dối trá dễ dàng.
Có đêm tôi mơ thấy mình ngồi dưới gốc lựu cũ, tay nhuốm màu đỏ tươi như máu. Hoa rụng đầy vai. Tôi cố gắng lau đi nhưng màu đỏ ấy càng lan, càng thẫm. Tỉnh dậy, mồ hôi lạnh ướt cả gối. Ngoài sân, cây lựu già vẫn trĩu quả, đỏ rực trong bóng trăng, như đang nhìn tôi, lặng lẽ, buồn bã. Tôi nghe tiếng mưa thấm qua mái tranh. Mưa rơi, nhưng tiếng nó giờ chẳng còn rửa sạch được gì. Tôi không còn biết chắc điều gì là đúng, điều gì là sai. Chỉ biết rằng mỗi lần soi gương, tôi thấy khuôn mặt lạ lẫm nhìn lại mình, của một người từng tin vào điều tử tế. Có lẽ tôi không đơn độc, biết bao người sau chiến tranh cũng đang sống với những bản ngã vụn vỡ. Chúng tôi không phản bội tổ quốc, mà chỉ đang cố sống sót giữa một thời hậu chiến còn lắm vết thương.
Tôi không trách ai, chỉ sợ những người đã ngã xuống không hề nghĩ rằng những kẻ ở lại lại phải sống bằng cách này… mài mòn thiện lương bởi nhu cầu.
Với một đất nước mà con cháu của họ lớn lên bằng mánh khoé và im lặng. Tôi không có câu trả lời, chỉ biết rằng mỗi lần mở mồm, tôi càng thấy hẹp. Lời nói đã trở thành thứ phải tính toán. Tôi nhận ra sự tha hóa của mình đã vượt quá tầm tay sửa chữa thông thường. Nó đã ăn sâu, thấm vào máu, khiến mọi thứ tôi chạm vào đều có mùi tiền bạc và nỗi xấu hổ.
Một đứa trẻ hàng xóm, con của bà Hồng tìm đến nhà tôi, nó biết tôi đi buôn nên nhờ chuyển thư cho mẹ. Đó là một lá thư nhỏ, mép mực lem nhem. Đứa trẻ đưa cho tôi bằng hai tay run rẩy, mắt nó nhìn thẳng vào tôi như nhìn thẳng vào một tấm gương. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy rõ khuôn mặt mình, không phải là người từng khóc tiễn biệt, mà là một kẻ đã bán đứng quá nhiều thứ. Tôi không nhận lá thư. Tôi nói dối rằng mình có việc bận một thời gian không lên tỉnh. Đứa trẻ quay đi, vai nó nhỏ xíu, bước đi bị uốn cong bởi một nỗi thất vọng chưa trưởng thành.
Tôi bước vào ngày mà mình biết không thể quay lại đường cũ nữa. Những lựa chọn giờ đây là đong đếm. Tiếp tục con đường đã chọn, hay dám đối diện với những tàn dư của chính mình. Nhưng con đường đầu tiên vẫn gần, ấm và đầy hứa hẹn trong cách nó cho tôi miếng ăn ngay lập tức. Còn con đường thứ hai lại lạnh và rỗng, như những khẩu hiệu treo trên đình làng.
Tôi nhắm mắt, nghe tiếng mưa như một lời kết chưa nói. Trong lòng, một thứ gì đó đã chết. Và có lẽ, sẽ có những thứ tiếp theo phải chết nữa. Thầy và các anh chị tôi chết với nụ cười, tôi tin là vì họ tin vào lý tưởng. Chính vì thế, sự vỡ vụn của tôi mới đau đến thế. Nếu chúng tôi từng dối trá ngay từ đầu, có lẽ chẳng đau gì khi dối trá lần nữa.
4
Cây lựu trong sân nhà tôi hôm nay đã chết, giữa tháng sáu. Tôi đứng nhìn nó, không còn cảm thấy gì ngoài một khoảng trống lạnh lẽo. Có lẽ, cùng với nó, thứ còn sót lại cuối cùng trong tôi cũng đã chết.
Tôi biết nó sắp đi từ mấy hôm trước, khi những bông hoa cuối cùng thôi rụng mà cứ héo quắt lại, như miệng người hấp hối cố muốn nói gì đó rồi thôi. Lá chuyển màu tro, xao xác trong gió, còn rễ bắt đầu trồi lên khỏi mặt đất, xơ xác.
Bu mất đã hai mùa rồi. Gian nhà vẫn còn nguyên cái chõng tre bu nằm hát, chỉ khác là chẳng còn ai ngồi. Tôi hay vứt đồ đạc ngổn ngang lên đó, mấy cuộn vải, bao thuốc lá, những thứ hàng hóa không giấy tờ. Tro bụi rơi dày, trông như phủ khăn tang.
Buổi sáng cây lựu gãy, tôi đang đếm tiền. Một con chuột chạy ngang qua làm đổ chồng bạc. Tiền rơi tung tóe, trộn với đất đỏ và xác quả lựu rữa, dính nhẹp như bùn. Tôi ngồi sụp xuống, nhặt từng tờ, thổi hết đất cát, xếp lại ngay ngắn. Mùi lên men của quả chín khiến tôi nhức đầu, nhưng tôi vẫn nhặt, rất cẩn thận, không để sót tờ nào.
Đêm đó, tôi đốt cây. Cành cháy lẹt xẹt, lửa ăn chậm, khói nồng đến nghẹt thở. Tôi ngồi cạnh, nhìn khói quấn quanh mình, cay mắt mà chẳng biết do khói hay do gì khác.
Trong làn khói, tôi thấy bóng bu thấp thoáng, không rõ thật hay mộng. Bu quay lưng, ngồi hát khe khẽ, giọng như gió lùa qua những trái lựu khô rỗng hạt. Tôi đưa tay định chạm, nhưng chỉ chạm được vào tro nóng.
Đêm đó, tôi thức trắng. Sáng ra, gió lùa qua sân trống, rắc tro lựu lên tóc, lên áo. Tôi không phủi.
Chiều xuống, tôi ra ga. Người ta gọi tôi bằng tên khác, tên tôi dùng trong những chuyến hàng lậu. Tôi quay lại, đáp rất tự nhiên.
Khi tàu hú còi, tôi chợt nhớ gốc lựu, giờ chỉ còn một vệt cháy sém dưới đất. Tôi không quay lại. Nhưng trong đầu bất chợt vọng lên một tiếng gì đó, như tiếng quả rụng, khô và nặng, chạm xuống đất, vỡ ra.
Tôi không biết đó là tiếng của đất, hay của linh hồn mình.