VIET ART VIEW

Website

VIET ART VIEW Công ty tư vấn toàn diện về Nghệ thuật

XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH - TỪ LỊCH SỬ ĐẾN NGHỆ THUẬT🇻🇳 “Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh” năm 1930 - 1931, đề tài lớn của ngành Mỹ ...
12/09/2026

XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH - TỪ LỊCH SỬ ĐẾN NGHỆ THUẬT

🇻🇳 “Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh” năm 1930 - 1931, đề tài lớn của ngành Mỹ thuật Việt Nam

Tại Phủ Chủ tịch, ngày 3 tháng 2 năm 1964, nhân kỷ niệm 34 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trước sự chứng kiến của lãnh đạo Bộ Văn hóa, lãnh đạo hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lời đề tựa cho Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh (lúc này thành lập được bốn năm) những dòng sau:

“Năm 1930-1931, khi Đảng ta mới ra đời, một phong trào cách mạng lớn mạnh đã dâng lên trong cả nước mà đỉnh cao nhất là Xô-viết Nghệ Tĩnh.

Xô-viết Nghệ Tĩnh là chính quyền cách mạng đầu tiên của công nông đã lật đổ chính quyền phản động của đế quốc và phong kiến ở mấy nơi trong tỉnh Nghệ Tĩnh…

Dù đế quốc Pháp và bọn phong kiến đã tạm thời nhận chìm phong trào cách mạng trong biển máu nhưng truyền thống oanh liệt của Xô-viết Nghệ Tĩnh đã thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước tiến lên và đưa đến cách mạng Tháng Tám thành công rực rỡ…” (1)

15 năm sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… mở ra một kỷ nguyên độc lập mới cho dân tộc.

Năm 1957, Hội Mỹ thuật Việt Nam được nhận sáng tác một bức tranh lớn về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh - nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. Điều này cho thấy tầm quan trọng của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam.

Sau gần 70 năm kể từ ngày thành lập, cụm hiện vật mỹ thuật ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ vẫn là một trong những thành tựu xuất sắc mà Hội Mỹ thuật đã đóng góp trong dòng chảy lịch sử cách mạng và Mỹ thuật Việt Nam.

🇻🇳 Những giá trị đặc biệt của tác phẩm ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’

Một tác phẩm nghệ thuật quan trọng luôn bao gồm ba giá trị lớn: Lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Với (cụm hiện vật) tác phẩm ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’, giá trị quan trọng nhất chính là giá trị lịch sử.

- Giá trị lịch sử

Tác phẩm ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ cho Hội Mỹ thuật Việt Nam sáng tác và Người trực tiếp duyệt phác thảo.

Ngày 19 tháng 12 năm 1951, tại Chiêm Hóa, gần ATK, tức An toàn khu (Việt Bắc) trong rừng già, nơi đặt trụ sở đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp đã diễn ra một sự kiện quan trọng trong đời sống Văn nghệ kháng chiến. Sự kiện đã đi vào lịch sử với cái tên: Triển lãm hội họa 1951, đơn vị tổ chức là Hội Văn nghệ Việt Nam.

Triển lãm này có ý nghĩa quan trọng, vượt ra ngoài khuôn khổ của một hoạt động văn hóa đơn thuần. Có thể nói, triển lãm như một tuyên ngôn về ý chí phấn đấu của giới văn nghệ sĩ nói chung và giới mỹ thuật nói riêng. Đặc biệt, triển lãm còn vinh dự đón nhận sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi các họa sĩ trong triển lãm được thay mặt toàn bộ giới mỹ thuật đón nhận lá thư Người gửi Triển lãm Hội họa 1951 (2) với những dòng chữ bất hủ cho mọi thế hệ văn nghệ sĩ cả nước:

Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận.
Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.

Sáu năm sau lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 3 năm 1957, Hội Mỹ thuật Việt Nam được thành lập với 108 đại biểu. Đây cũng là Đại hội đầu tiên của ngành - được họp tại nhà số 1 phố Bà Triệu với sứ mệnh lịch sử như trong thư Người căn dặn:

“Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.”

“Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế, mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp […] phát triển và nâng cao tinh thần ấy.”

Với sứ mệnh tinh thần trong lá thư, ngay sau khi Hội Mỹ thuật được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gợi ý đề tài một bức tranh lớn cho tập thể các họa sĩ của Hội sáng tác. Tác phẩm có chủ đề về phong trào đấu tranh của lực lượng công nhân và nông dân ở Nghệ An - Hà Tĩnh năm 1930-1931 chống thực dân Pháp - thường được gọi với cái tên Xô viết Nghệ Tĩnh (Tên gọi này xuất phát từ sự hình thành các “xã bộ nông” mà những người cộng sản gọi là “Xô viết”). Sau khi hoàn thiện, bức tranh sẽ được Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tham gia triển lãm tại Liên Xô nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười (1917-1957). Sau đó, tác phẩm được trao tặng Chính phủ và nhân dân Liên Xô.

Sau khi phác thảo tranh được hoàn thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp duyệt chọn, thống nhất với nhóm họa sĩ sẽ dùng chất liệu sơn mài truyền thống của hội họa Việt Nam. Theo nhật ký của họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ, bức tranh được thể hiện và hoàn thiện tại trụ sở 46 Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Cùng trong năm 1957, theo chủ trương chung của Nhà nước, Hội Mỹ thuật Việt Nam tiếp tục giao nhiệm vụ cho nhóm họa sĩ sáng tác thêm một bức tranh nữa với mục đích đem đi triển lãm lưu động ở 12 nước thuộc trong khối Xã hội Chủ nghĩa. Năm 1964, Hội Mỹ thuật đã bàn giao bức tranh lại (cùng với nhiều tác phẩm khác) cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - lúc này đang trong giai đoạn chuẩn bị cơ sở vật chất để chính thức thành lập vào năm 1966.

Vì vậy, bức phác thảo thứ hai được hoàn thiện từ bức phác thảo lần thứ nhất với các chi tiết thêm và chỉnh sửa để cho bức phác thảo được hoàn thiện ở mức độ tốt nhất về bố cục và tạo hình. Hai bức tranh sơn mài lớn (cùng tên) hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh (Nghệ An) đều được hoàn thiện trên bản phác thảo thứ hai này.

Trong lịch sử mỹ thuật thế giới, đã có không ít bản phác thảo gốc được đánh giá cao hơn cả tác phẩm hoàn chỉnh. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, những phác thảo ấy không chỉ là bước đầu kỹ thuật, mà còn khiến cho ra đời những nghiên cứu sâu hơn về lịch sử, tư duy và cá tính sáng tạo của họa sĩ.

Một trong những giá trị nổi bật của phác thảo ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ là đã truyền tải được cảm xúc nguyên bản của người nghệ sĩ; những rung động tức thì, trực tiếp, được thể hiện trong quá trình ghi chép, nghiên cứu hoặc sáng tác tại chỗ. Chính trong khoảnh khắc đó, tính chân thực đạt đến mức cao nhất, chưa bị can thiệp bởi hình tượng lý tưởng hay chỉnh sửa trong quá trình hoàn thiện tác phẩm.

- Bức tranh có nhiều họa sĩ tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tham gia nhất

Để chuẩn bị sáng tác bức tranh tầm vóc lớn và nhiều ý nghĩa này, Hội Mỹ thuật Việt Nam giao nhiệm vụ cho nhóm sáu họa sĩ bao gồm: Nguyễn Đức Nùng (1914 - 1983), Nguyễn Văn Tỵ (1917 - 1992), Phạm Văn Đôn (1918 - 2000), Nguyễn Sỹ Ngọc (1919 -1990), Trần Đình Thọ (1919 - 2011), Huỳnh Văn Thuận (1921 - 2017) trách nhiệm sáng tác. Họ đều là những họa sĩ tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đã có nhiều thành tựu khi sáng tác tranh sơn mài và là những nghệ sĩ tiêu biểu của Mỹ thuật Việt Nam. Trong nhóm ấy, có họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ, khi đó đang là Tổng Thư ký đầu tiên của Hội Mỹ thuật Việt Nam - một vị trí không chỉ mang trọng trách nghề nghiệp mà còn mang trên vai trách nhiệm với đất nước. Đây là một vinh dự lớn cho Hội Mỹ thuật Việt Nam nói chung và nhóm họa sĩ thực hiện nói riêng.

- Từ tác phẩm ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’, một loại hình tranh lịch sử cách mạng được xác lập

Ở một số nước trên thế giới, dòng tranh lịch sử cách mạng có những sứ mệnh và mục đích khác nhau. Ví dụ như ở Liên Xô (cũ) là tuyên truyền chính trị nói chung, Bắc Triều Tiên là tuyên truyền về lãnh đạo, Pháp là tự do dân chủ phản đối áp bức. Ở Việt Nam, tranh lịch sử cách mạng là cổ động kháng chiến, lấy quần chúng nhân dân làm “đối tượng thể hiện chính” để truyền cảm hứng cho nhân dân thay vì lấy một nhân vật chính làm chủ thể.

Không những thế, tranh lịch sử cách mạng về nhân dân - quần chúng luôn có nội dung lành mạnh, tinh thần luôn có khí thế vươn lên, tiến tới chiến thắng… đòi hỏi hình ảnh phải cụ thể, nhân vật phù hợp, phong cảnh tiêu biểu, điển hình đúng với tính chất của sự kiện lịch sử đề cập đến, ví dụ như các tác phẩm ‘Nông dân chống thuế năm 1930’, 1960, sơn mài, của Nguyễn Tư Nghiêm; ‘Khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940’, 1960, sơn mài, của Huỳnh Văn Gấm; ‘Đánh chiếm Bắc Bộ Phủ’ của Nguyễn Đức Nùng; ‘Biểu tình ban đêm ở Cẩm Xuyên’, 1970, sơn mài, của Lê Quốc Lộc…

Qua những tư liệu trên, có thể thấy, từ tác phẩm ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ năm 1957, các họa sĩ Việt Nam đã phát triển thành một loại hình tranh lịch sử cách mạng của riêng Việt Nam. Trong đó, hình tượng “nhân vật chính” không được “cá nhân hóa” mà là toàn thể quần chúng nhân dân - khi họ đoàn kết, hành động như một chỉnh thể thống nhất, mang sức mạnh tượng trưng cho ý chí, niềm tin và khát vọng độc lập dân tộc.

Ngoài những giá trị lịch sử đặc biệt trên, tác phẩm ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ còn chứa đựng trong đó rất nhiều hàm lượng giá trị nghệ thuật từ nhóm tác giả khi họ cảm nhận sâu sắc vai trò và trách nhiệm của người làm nghề khi nhận được nhiệm vụ Hồ Chủ Tịch giao. Ngoài việc soi tỏ lịch sử, họ còn nhiệm vụ quan trọng là dùng nghệ thuật tạo hình làm phương tiện truyền tải thông điệp về một trong những sự kiện quan trọng kiến tạo nên sự thành công của cách mạng.

- Giá trị Nghệ thuật

Về mặt nghệ thuật, ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất chủ đề lịch sử và chiến tranh cách mạng Việt Nam. Bức tranh tái hiện cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh với khí thế sục sôi, sóng dậy của quần chúng nhân dân trong bối cảnh chịu sự đàn áp của đế quốc thực dân Pháp. Đây không phải là một cuộc biểu tình thông thường, đây là một cuộc chuyển mình lịch sử, nơi quần chúng nhân dân tự kiến tạo lịch sử cho mình.

Đằng sau mỗi tác phẩm hội họa lịch sử có tầm vóc lớn với hàng trăm nhân vật và nhiều lớp không gian… chắc chắn phải trải qua một quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc và bền bỉ của họa sĩ. Để xây dựng được một bố cục hoàn chỉnh, họa sĩ phải bắt đầu từ hàng chục, thậm chí hàng trăm bản ký họa và phác thảo: Từng dáng người, từng động tác tay, từng phục trang, ánh nhìn - tất cả đều cần được nghiên cứu từ tư liệu lịch sử, đời sống thật, và cả ký ức của những nhân vật có thật ngoài đời.

Với đề tài chiến tranh cách mạng, bố cục nhân vật không chỉ đông mà còn mang tính biểu tượng cao thì việc nghiên cứu hình thể, trang phục, thậm chí cả tâm lý nhân vật cùng với không gian kiến trúc của thời kỳ lịch sử đó lại càng được chú trọng.

Tất cả những bản ký họa đó, sau cùng được tập hợp lại, điều chỉnh trong mối tương quan giữa không gian và thời gian, để họa sĩ xây dựng lên bố cục tổng thể. Từng tuyến nhân vật không chỉ được khắc họa trong tranh bằng tạo hình, đường nét, màu sắc mà còn phải liên quan gắn kết chặt chẽ với bối cảnh kiến trúc, địa lý, và đặc trưng của bối cảnh lịch sử có thật. Nhất là những tác phẩm nhiều tính sử như ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’.

Hiểu rõ những yếu tố quan trọng trên, nhóm họa sĩ ngay lập tức khẩn trương đi thực tế ở Nghệ An ghi chép tài liệu để dựng phác thảo lớn với rất nhiều chi tiết phức tạp - khởi nguồn từ bản phác thảo nhỏ, đơn giản đầu tiên của họa sĩ Nguyễn Đức Nùng.

Trong bài viết “Nhớ về những ngày đầu thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam”(3) của họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ có đoạn: “Một số tác giả đã về tận nhà cụ Hoàng Hanh ở Nam Đàn để nghiên cứu vẽ hình các tự vệ đỏ, về nghiên cứu trụ sở huyện Nam Đàn cũ mà tôi nhớ vẫn còn ghi chữ “Huyện đỏ Nam Đàn!” Sau chuyến đi đó, cùng với những ghi chép tư liệu thực tế tại Nam Đàn, hàng trăm hình nghiên cứu nhân vật tại chỗ (chưa kể một số hình nghiên cứu từ trước nhưng có tính phù hợp) đã được nhóm họa sĩ ký họa đưa vào xây dựng bố cục nhân vật.

Tác phẩm tái hiện toàn cảnh sự kiện với hàng trăm nhân vật cùng hệ thống cảnh quan, kiến trúc và chi tiết lịch sử được thể hiện tỉ mỉ. Từ trang phục, cử chỉ, ánh mắt đến bố cục không gian đều được xây dựng trên cơ sở tư liệu lịch sử đáng tin cậy. Mỗi nhân vật ngoài giá trị tạo hình còn mang trong mình một câu chuyện, một thân phận riêng, phần lớn được khắc họa từ nguyên mẫu có thật trong đời sống hoặc lịch sử.

‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ là một bức tranh hoành tráng về mặt bố cục, là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu và lao động nghệ thuật nghiêm túc của nhóm tác giả. Chính sự hòa quyện giữa mỹ thuật - lịch sử - con người đã làm nên chiều sâu biểu cảm và sức sống đặc biệt cho tác phẩm, tạo thành một bức tranh ghi lại sự kiện, và hơn nữa, là một bản trường ca bằng hình ảnh về lịch sử hào hùng của một dân tộc.

Trong bài Tham luận đọc tại Hội nghị Phê bình Triển lãm Mỹ thuật năm 19604 của họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ có đoạn:

“Trước hết là làm sao phối hợp được những người đứng mẫu với nhân vật sinh động của lịch sử. Nhiều lúc vẽ xong một hình người thì thấy không phải là nhân vật của Xô viết Nghệ Tĩnh mà chỉ là những anh nông dân miền Bắc hay những ông cụ công chức đứng mẫu, với những động tác cứng đờ. Lúc này chúng tôi bàn nhau đưa vào phác thảo, dùng sức tưởng tượng rất nhiều để xây dựng nhân vật. Tuy có nghiên cứu nhân vật Nghệ Tĩnh tại chỗ, vẽ cảnh tại chỗ, nhưng vấn đề chính vẫn là phải sáng tạo lại cảnh và người thực ở trong trí tưởng tượng thì mới giải quyết được khó khăn vẽ người xưa mà hóa người nay, vẽ cảnh cũ mà hóa cảnh mới. Ngoài ra cũng còn một khó khăn nữa là phối hợp những động tác ăn khớp vào một hướng chuyển động nhất định của sự việc xảy ra. Làm sao tất cả những cánh tay giơ lên, những cặp mắt nhìn…?, từng đám người nhỏ hoạt động một đều xoay hướng cùng đối mặt với đám lính khố vàng và Tây lê dương mà các động tác và mỗi đám người đều có những động tác hợp lý, sinh động không giống nhau và không cứng đờ như người mẫu. Lúc đầu vẽ thì dễ thấy người này cãi nhau với người kia hay đám trước ngăn đường của đám sau tiến lên. Nói chung, chúng tôi đều cố gắng dùng trí tưởng tượng để sáng tạo ra hình ảnh lịch sử… của hiện tại mà dựng thành những nhân vật “thực”, bối cảnh “thực” của lịch sử cuộc khởi nghĩa Xô viết Nghệ Tĩnh.”

Đọc mới thấy hết những trăn trở, suy nghĩ của tác giả trong quá trình xây dựng tác phẩm. Để xây dựng các tuyến nhân vật đã khó, nhưng để lồng ghép các dữ kiện lịch sử vào toàn bộ cấu trúc bố cục sao cho hài hòa giữa tính lịch sử và nghệ thuật được đảm bảo độ chính xác đòi hỏi tác giả ngoài tư duy về sáng tạo còn phải bổ sung thêm nhiều kiến thức lịch sử.

Dòng chữ “Nam Đàn” trên kiến trúc cổng đã chỉ rõ địa danh nơi xảy ra cuộc biểu tình. Theo tư liệu, cuộc nổi dậy này diễn ra vào ngày 30 tháng 8 năm 1930 của nhân dân Nam Đàn. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng đã miêu tả cụ thể:“Trong lúc biểu tình, 3.000 nông dân Nam Đàn vây chặt văn phòng viên quan huyện, phá nhà tù và giải thoát tù nhân…”(5) Chi tiết quan trọng này đã được nhóm tác giả nghiên cứu và đưa vào tác phẩm. Tiếp theo đó, những băng rôn biểu tình như “Giảm sưu thuế”, “Chống khủng bố trắng”, “Bãi bỏ các thứ thuế và bồi thường các gia đình bị tàn sát trong cuộc bạo động ở Yên Bái” đã nhắc đến những sự kiện có thật trong lịch sử. Vì vậy, khi xem bức tranh này người yêu nghệ thuật cần trang bị thêm những kiến thức lịch sử về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh để cảm nhận được hết tính quan trọng của sự kiện, sự dày công trong quá trình tìm hiểu lịch sử, xây dựng những chi tiết điển hình, bối cảnh câu chuyện của nhóm tác giả. Nó khiến cho người xem thêm trân quý những sáng tạo nghệ thuật vừa mang tính chân thực vừa khơi gợi lòng tự hào về truyền thống yêu quê hương tổ quốc… của mỗi người Việt Nam.

Ngoài tạo hình hàng trăm nhân vật với các dáng thế khác nhau, có một “đạo cụ biểu tượng” quan trọng được đặt ngay tiền cảnh tác phẩm với các họa tiết hoa văn trang trí cổ “rồng mây” cho thấy sự tinh tế trong cách “hiểu sử” của các tác giả.

Theo các tư liệu, “tiếng trống trong cao trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh” là linh hồn các cuộc đấu tranh. Tiếng trống được quần chúng nhân dân sử dụng như một vũ khí, góp phần tạo nên cơn bão táp cách mạng thời kỳ 1930 - 1931. Tiếng trống là hiệu lệnh tập hợp quần chúng xuống đường đấu tranh, thay lời hiệu triệu làng trên xóm dưới, xã và tổng liên kết thành khối thống nhất. Ngoài ra, tiếng trống còn là tín hiệu để bảo vệ tổ chức Đảng trước kẻ thù.

Trong cuốn “Đông Dương cấp cứu” của André Violette, nữ nhà báo Pháp, có viết: “Trong các cuộc đấu tranh ở Nghệ An, Hà Tĩnh, quần chúng đã dùng tiếng trống để làm vũ khí áp đảo quân thù.”

Hiện nay, nhiều chiếc trống biểu tượng làm nên “Tiếng trống năm 30” của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh đang được lưu giữ như những nhân chứng quan trọng của lịch sử Việt Nam.

🇻🇳 Từ ký ức hào hùng đến phát huy truyền thống và tiếp nối tinh thần cách mạng

- Ký ức hào hùng

Có những thời khắc quan trọng của lịch sử chiến tranh đầy máu và nước mắt, nếu được ghi nhớ lại sẽ sống mãi trong ký ức các thế hệ.
Từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là 30 năm chiến tranh gian khổ của toàn quân và dân.

Trong suốt 30 năm ấy, các họa sĩ, tuy không đứng ở tuyến đầu như những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trên chiến trường nhưng nhiều họa sĩ cũng đã tham gia các chiến dịch lớn như chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chiến dịch Mậu Thân năm 1968… và các vùng đất khói lửa như Vĩnh Linh - Quảng Bình… Có những họa sĩ - chiến sĩ đã hy sinh trên chiến trường như Tô Ngọc Vân (1906-1954). Họ đã đóng góp bằng việc sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật phản ánh chân thực cuộc chiến với tất cả niềm tin, hy vọng…

Đã gần 70 năm kể từ khi sáu họa sĩ danh tiếng cùng nhau thực hiện nhiệm vụ đặc biệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao - xây dựng bản phác thảo và hoàn thiện tác phẩm trên chất liệu sơn mài. Đến nay, tác phẩm ‘Xô viết Nghệ Tĩnh’ đã trở thành một tư liệu lịch sử bằng hình, một cụm hiện vật biểu tượng cho cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh - là tiếng nói từ lịch sử vọng đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của cách mạng nhân dân.

Điều này cho thấy, khi người họa sĩ thấu hiểu sâu sắc tình yêu quê hương, lòng tự tôn dân tộc, truyền thống cách mạng và truyền được vào tác phẩm thì “người nghệ sĩ cũng chính là người chiến sĩ”.

- Phát huy truyền thống các thế hệ trước, nghệ thuật phục vụ đất nước

Với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc qua hàng ngàn năm, với lý tưởng cách mạng được các thế hệ họa sĩ đi trước đã xây dựng, các họa sĩ trẻ ngày nay tiếp nối truyền thống vẻ vang ấy trong vinh dự, tự hào và trách nhiệm.

Hiện nay, trong “kỷ nguyên vươn mình” mới của dân tộc, sự tri ân, ghi nhớ công lao của cha ông được thể hiện trong nhiều hoạt động thiết thực của các cơ quan, đơn vị. Những tượng đài, những công trình tưởng niệm, những cuộc vận động sáng tác mỹ thuật, những cuộc thi sáng tác về cách mạng, về lực lượng vũ trang… được tổ chức thường xuyên không chỉ để kỷ niệm những ngày lễ lịch sử của dân tộc mà còn ghi dấu thêm vào kho tàng văn hóa, nghệ thuật Việt Nam.

Vì vậy, dù có nhiều đề tài phong phú để các họa sĩ trẻ lựa chọn, nhưng khi các hội đoàn tổ chức các cuộc sáng tác chuyên đề lịch sử, họ vẫn dành nhiều sáng tác của mình cho đề tài lịch sử chiến tranh cách mạng và xây dựng quê hương đất nước. Họ coi đó chính là những cơ hội quý dùng mỹ thuật mà họ đã được truyền dạy làm phương tiện để bày tỏ lòng niềm tin yêu với đất nước.

Niềm tin yêu ấy không chỉ thể hiện trong những sáng tác, mà luôn là ngọn lửa âm ỉ cháy trong tim, sẵn sàng bùng lên khi Tổ quốc cần. Ánh nhìn của họ luôn hướng về tương lai, luôn rực sáng niềm tự hào khi nhìn lại quá khứ; lấy đó làm động lực để bước chân vững vàng đi giữa những con đường mới, trong sự ghi nhớ biết ơn dấu chân cha ông trên con đường cách mạng xưa.

- Tiếp nối tinh thần cách mạng

Để đổi lấy hòa bình ngày hôm nay; để nụ cười luôn rạng rỡ trên khuôn mặt thơ ngây của các em bé; để ánh mắt ấm áp, bình yên luôn hiện trên khuôn mặt người già; để ánh mắt kiên nghị, rực cháy, lấp lánh ánh sáng của niềm tin luôn tỏa sáng trên khuôn mặt thế hệ trẻ… các thế hệ cha ông ta đã để lại lịch sử hàng nghìn năm tranh đấu cho độc lập dân tộc mà cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 là một trong những điển hình.

Sau 95 năm, “Tiếng trống năm 30”, linh hồn của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã trở thành biểu tượng cách mạng quần chúng nhân dân, còn vang vọng mãi…

Chú thích trong bài:
(1) Theo trang của Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh.
(2) Theo Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5 tháng 1 năm 1952.
(3) Theo “Nhớ về những ngày thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam”, bài viết của họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ in trên báo Độc lập ngày 15 tháng 4 năm 1987.
(4) Theo tư liệu gia đình họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ.
(5) Trích trong "Hồ Chí Minh - Toàn tập", tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật. 2011.

Bài viết bởi Viet Art View
Bản quyền thuộc về Viet Art View
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

01/09/2026
BẮT ĐẦU MỘT NỀN MỸ THUẬT CÁCH MẠNGSau tháng 8 năm 1945, nền mỹ thuật Việt Nam hướng theo dòng nghệ thuật cách mạng được ...
27/08/2026

BẮT ĐẦU MỘT NỀN MỸ THUẬT CÁCH MẠNG

Sau tháng 8 năm 1945, nền mỹ thuật Việt Nam hướng theo dòng nghệ thuật cách mạng được coi là chính thống. Lúc đầu số họa sĩ tham gia Mặt trận Việt Minh, rồi Văn hóa cứu quốc chỉ dăm bảy người. Đến kháng chiến chống Pháp, số họa sĩ theo cách mạng đông dần lên tới gần 30 người - phần lớn là các họa sĩ ở thủ đô Hà Nội và một vài anh em ở miền Nam từ những ngày Pháp khởi hấn ở Nam Bộ.

Số lượng họa sĩ mới đầu tuy nhỏ nhưng vì có lòng yêu nước nên đã làm nòng cốt đắc lực cho phong trào vẽ tranh cổ động và mọi nhiệm vụ tuyên truyền kháng chiến lúc bấy giờ. Mọi sáng tác đổ dồn vào nét bút chống địch, vẽ tranh cổ động, tranh tường cổ vũ toàn dân đoàn kết chiến đấu. Quanh mặt trận Hà Nội, có biết bao tranh in nét to, chữ đậm, về anh tự vệ chống tăng bằng bom ba càng, về tình quân dân, biết bao khẩu hiệu kẻ và những bức tranh tường ở các khu ngoại ô dựng chiến lũy như Bạch Mai, Ngã Tư Sở, Cầu Mới… Các họa sĩ Thủ đô rút dần lên chiến khu theo các cơ quan tuyên truyền hoặc vào hẳn các đơn vị bộ đội.

Ở Việt Bắc và các liên khu giới họa sĩ được học tập chủ nghĩa Mác Lê-nin, tham gia những cuộc vận động quần chúng như tạm vay, đóng thuế nông nghiệp, rồi giảm tô và cải cách ruộng đất.

Những xưởng họa được dựng lên ở Xuân Áng (Phú Thọ cũ) và Thanh Hóa. Suốt những năm từ 1948 đến 1951 là thời kỳ các họa sĩ vừa đi nghiên cứu vẽ ở thực tế các mặt trận, các địa phương có phong trào kháng chiến mạnh, từ vùng sau lưng địch đến các nẻo đường heo hút nối liền từ Việt Bắc đến khu 4, khu 5 và Nam Bộ. Nhiều tác phẩm và kỹ thuật mới ra đời, như “Chân dung Bác Hồ” (khắc gỗ của Tô Ngọc Vân), “Mùa gặt” (sơn dầu của Dương Bích Liên), “Ba nữ du kích” (khắc gỗ của Bùi Xuân Phái), “Thương binh” (sơn dầu của Thân Trọng Sự), “Chợ Bo” (sơn dầu của Nguyễn Sáng), “Vườn không nhà trống” (gỗ của Lê Quốc Lộc)…

Tranh in Li-tô với đậm nhạt và sáng tối là kỹ thuật diễn tả mới của xưởng họa LK4; màu xanh lót vàng là kỹ thuật diễn tả màu xanh rừng Việt Bắc của xưởng họa Xuân Áng. Kỹ thuật phát triển ngay trong rừng sâu khi nhiệm vụ chính trị đòi hỏi cấp bách. Những nhân vật Hà Nội lúc này đã chuyển hóa thành “Anh lính Cụ Hồ” áo nâu, mũ ca-lô, áo trấn thủ và giày vải đi rừng. Thiếu nữ mặc áo ngắn, đeo ba-lô đi bộ hoặc cầm súng trong đội ngũ dân quân. Những hình tượng nhân vật đó trên tranh đã được trình bày ở các Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc tại Đào Dã (1948) và Chiêm Hóa (1951) giữa khu rừng già. Cũng từ triển lãm này, giới họa sĩ được nhận thư Bác Hồ nghiên cứu ý nghĩa cả “lời” của Bác để tự nguyện có ý thức về người “chiến sĩ” trên con đường nghệ thuật cách mạng của mình.

Cũng vào thời kỳ này, trường Cao đẳng Mỹ thuật mở lại ở chiến khu Việt Bắc, đào tạo một thế hệ tiếp theo gồm hơn 20 anh chị em. Trường học lưu động qua nhiều tỉnh, vừa học vừa phục vụ công tác tuyên truyền, tham gia sản xuất và chiến đấu. Chính vào thời kỳ này, các họa sĩ của hai thế hệ tiếp cận cùng đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật qua thực tế, xem tận nơi những vốn cổ dân tộc ở các địa phương như ngôi đền Bà đợi Lý ở Yên Bình (nay thuộc lòng hồ Thác Bình), đình Thổ Hà (Bắc Giang cũ), đền Vồm thờ Lê Phụng Hiều (Hàm Rồng, Thanh Hóa), Hoa Lư và hang Đồng Nội có nét vẽ chạm của người Việt cổ.

Bằng phương pháp so sánh, phương pháp luận khoa học tiếp thu từ phép duy vật biện chứng, một số họa sĩ bắt đầu đánh giá lại các vốn cũ và đi sâu nghiên cứu các tác giả lớn hiện đại phương Tây, cùng đề ra những phương pháp sáng tác mới. Nhiều cuộc thí nghiệm về màu sắc và kỹ thuật tranh khắc gỗ in giấy điệp, in tranh trên đá được phát hiện để phục vụ kịp thời những nhiệm vụ chính trị. Nhìn chung đây là thời kỳ phong phú về tích lũy vốn sống, về hiểu biết lý luận kết hợp với thực tiễn để chuẩn bị cho những bước sáng tác và đào tạo đội ngũ mới sau này.

Từ 1954, nhiều cuộc triển lãm toàn quốc được mở ra ở thủ đô đã được giải phóng. Số quần chúng xem tranh đông gấp bội. Những tác phẩm về nội dung kháng chiến, về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ được mở rộng và nâng cao về mặt chất lượng nghệ thuật, từ 1955-1956 mỹ thuật Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài từ Ấn Độ đến các nước Đông Âu. Cho đến 1958 phần Việt Nam trong Triển lãm quốc tế các nước XHCN ở Mát-xcơ-va đã được đánh giá cao. Hội họa Việt Nam là một phát hiện mới ở triển lãm này và một “đóng góp đáng kể cho kho tàng văn hóa thế giới”.

Trung ương Đảng và Nhà nước ta đã tặng Hội Mỹ thuật Việt Nam Huân chương Lao động hạng nhất (1960) vào dịp này.

Từ đây phong trào sáng tác mỹ thuật được mở rộng, đội ngũ nghệ sĩ mới được đào tạo ngày càng đông, đóng góp cho công cuộc chống Mỹ cứu nước, nhiều nghệ sĩ - chiến sĩ cả về điêu khắc lẫn hội họa. Thế hệ nghệ sĩ trẻ tỏ ra sung sức, năng nổ hoạt động trên chiến trường cũng như trong xưởng họa. Lê Duy Ứng là một trường hợp điển hình. Rồi đến Đỗ Sơn, Lương Xuân Đoàn, Lê Anh Vân. Một số tác giả nữ tỏ ra xuất sắc về đổi mới phong cách, về tư duy khái quát nghệ thuật như Đặng Thị Khuê, Thu Hương, Văn Dương Thành, Mai San…

Mấy năm gần đây, những khó khăn về kinh tế xã hội không khỏi ảnh hưởng đến sáng tác mỹ thuật. Vừa công tác cơ quan, vừa sáng tác nghệ thuật là nhiệm vụ của phần lớn anh chị em trẻ. Những khó khăn về thời gian, về nguyên liệu, vật liệu không làm nản lòng những nghệ sĩ trẻ đầy tâm huyết vì nghệ thuật. Gần đây, những phòng triển lãm của tác giả trẻ, của tác giả nữ liên tục được mở hàng năm, giữ vững nề nếp làm việc. Tuy nhiên những khó khăn vẫn cứ đến liên tiếp. Chính lúc này, giới mỹ thuật cần sự giúp đỡ của dư luận quần chúng, sự ủng hộ của các cơ quan Nhà nước quản lý về mỹ thuật và nhất là sự tin tưởng của toàn giới vào kỳ Đại hội ngành mỹ thuật lần thứ hai sau 26 năm thành lập Hội, sự mong ước về sáng tác tạo hình được phát triển sâu rộng, xứng đáng với một nền văn nghệ tiên tiến như Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng đã nêu lên.

Bài viết của họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Viet Art View xin thông báo lịch nghỉ lễ Quốc khánh 2/9:Công ty Viet Art View sẽ nghỉ lễ trong 04 ngày: từ 30/8/2026 đến...
27/08/2026

Viet Art View xin thông báo lịch nghỉ lễ Quốc khánh 2/9:

Công ty Viet Art View sẽ nghỉ lễ trong 04 ngày: từ 30/8/2026 đến hết 2/9/2026. Trong thời gian nghỉ lễ, số hotline của Viet Art View vẫn hoạt động bình thường.

Chúc quý khách hàng, đối tác và bạn yêu nghệ thuật một dịp lễ vui vẻ, hạnh phúc ❤️
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

“HẠ MÃN THU LAI” DỊU DÀNG HƯƠNG SẮC TRONG TRANH NGHỆ SĨ THIỀN HỌA TRỊNH HỮU NGỌCNăm 2017, cuốn sách “Trịnh Hữu Ngọc - từ...
24/08/2026

“HẠ MÃN THU LAI” DỊU DÀNG HƯƠNG SẮC TRONG TRANH NGHỆ SĨ THIỀN HỌA TRỊNH HỮU NGỌC

Năm 2017, cuốn sách “Trịnh Hữu Ngọc - từ những tác phẩm còn lại” của tác giả Trịnh Lữ ngay từ khi phát hành đã tạo nên một làn sóng cảm xúc trong giới yêu mỹ thuật. Làn sóng ấy với từng lớp sóng cứ dập dìu, liên tiếp vỗ vào thành bờ “lều vịt Hồ Tây”, nơi họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc đã sống, sáng tác suốt 27 năm. Và chắc chắn các lớp sóng ấy sẽ luôn được gió đưa nhịp nhàng, lâu bền với thời gian, trong mắt những người yêu nghệ thuật, thương mến, trân trọng ông.

Đọc sách mới thấy rõ cuộc đời, sự nghiệp của họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc thăng trầm, với nhiều gian nan. Ông sinh năm 1912 tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang trong một gia đình nền nếp. Bố là thợ máy tàu thủy xưởng Ba Son - Sài Gòn, thường xuyên theo tàu viễn dương. Mẹ ở nhà nuôi dạy con cái. Các con đều được học tiếng Pháp và quốc ngữ tại trường tiểu học Bắc Giang.

Mọi người thường biết đến ông với danh xưng Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc, khóa Đông Dương nhưng không nhiều người biết ông là người sáng lập thương hiệu hãng nội thất lừng lẫy “MÉMO”, những năm 1940-1954.

Nhà MÉMO đã thiết kế toàn bộ đồ nội thất gỗ trong tư gia của gia đình ông Trịnh Văn Bô, một nhà tư sản cực kỳ giàu có ở số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sinh hoạt, làm việc và viết bản Tuyên ngôn Độc lập. Hiện nay, ngôi nhà đã trở thành một phần của Bảo tàng Hồ Chí Minh. Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 cũng được thi công kịp thời bằng gỗ và thợ mộc do nhà MÉMO cung hiến.

Cuộc đời họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc trải qua nhiều giai đoạn sóng gió thăng trầm theo các diễn biến của lịch sử đất nước. Từ 1968 đến khi qua đời, ông chọn cách sống, làm việc, sáng tác “tự chiêm nghiệm, thực nghiệm bản thân” theo phong cách Thiền.

Năm 1997, Nhà Phê bình Mỹ thuật Thái Bá Vân đã “tưởng nhớ về sự ra đi” của họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc trong bài “Cái im lặng cao quý” như sau: “30 năm qua, từ khi tai họa chiến tranh ập tới Hà Nội, người Mỹ trút bom xuống ngay cái nhà riêng ở đường Quán Thánh của ông, thì họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc lặng lẽ nhặt mớ phế liệu cuối cùng, đóng bè chèo băng qua Hồ Tây, dựng căn nhà lá ven bờ hồ, sống một mình, vẽ một mình với cỏ cây, mây nước”.

Những dòng viết trên của Nhà PBMT Thái Bá Vân là thời kỳ họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc chuyển sang một giai đoạn mới của cuộc sống. Chính xác là “hai mươi bảy năm bóng nước gương trời” từ năm 1968 đến năm 1995 (theo Trịnh Lữ).

Họa sĩ - dịch giả Trịnh Lữ, con trai của họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc, tác giả cuốn “Trịnh Hữu Ngọc - từ những tác phẩm còn lại” đã mô tả lại bối cảnh của quãng thời gian chuyển mình ấy của cha mình: “Một ngày nắng đầu hè 1968, họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc, đã gần 60 tuổi, đang cùng một con trai nhặt nhạnh gỗ lạt và sắt thép còn có thể tận dụng được trong khu nhà đổ nát do trúng bom Mỹ của mình tại 108 Quán Thánh, Hà Nội. “Bố định làm nhà bằng những thứ này ư?”, anh con trai hỏi, giọng nghi ngại. “Ừ, có sao làm vậy con ạ”, ông đáp. “Mà thế mới hay. Trời đất tạo dựng tất thảy từ chỗ chả có gì…”. Họa sĩ ngừng tay, ngước nhìn trời rồi nói: “Con nhìn đi, trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, nắng vẫn trong vắt đẹp đẽ như thế, muôn đời như vậy, cho nên mình dễ quên…”.

Bức tranh sơn dầu chủ đề “Mít và hoa sen” được họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc sáng tác chính xác ngày 20 tháng 7 năm 1989. Dòng bút tích chính tay ông viết rõ ràng sau mặt lưng của tranh. Bức tranh được đánh số thứ tự 37. Họa sĩ Trịnh Lữ cho biết “cha của ông luôn đánh số tất cả các bức tranh của mình rất khoa học cho tiện việc lưu giữ”.

Năm 1989, một năm đặc biệt cho các sáng tác của họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc. Trong phần viết “Mùa hoa cuối cùng - tỉnh ngộ cuối cùng 1989 -1992” có đoạn: “Năm 1989, hầu như ngày nào cũng đạp xe đi vẽ. Số tranh còn lưu giữ được đã là hơn 200 bức sơn dầu cỡ 25 × 36 cm. Trong toàn bộ cuộc đời đây là năm đi vẽ nhiều tranh nhất - một loạt tranh có tính nhật ký tinh thần rõ rệt; lưu dấu những thăng hoa tinh tế của một cảm thức tự tại buông bỏ mà vẫn vỗ về mọi niềm vui, nỗi buồn, những đi tìm mà không gặp…” (Theo Trịnh Lữ).

Họa sĩ Trịnh Lữ cho biết, hồi đó cha ông sáng tác rất nhiều tranh khuôn khổ này, vì ông có sẵn nhiều bìa carton. Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc căng sẵn một loạt toan tự chế trên bìa cứng (canvas panel). Đặc tính của “canvas panel” hợp lý với hoàn cảnh hồi đó, thiết kế gọn, tiện lợi di chuyển khi đi vẽ ngoại cảnh.

Như vậy, tác phẩm “Mít và hoa sen” được sáng tác trong thời kỳ “sung mãn nhất”, “năm vẽ nhiều nhất - hơn 200 bức” của Trịnh Hữu Ngọc. Đây là quãng thời gian ông “toàn tâm toàn ý” chỉ sáng tác. Từ 1972 đến 1992, được gọi là “Giai đoạn Hồ Tây - Từ Ấn tượng đến Thiền họa” với các chủ đề: Núi rừng Tây Bắc; Nhà tôi; Làng tôi; Hồ Tây; Phố xá Hà Nội; Đền chùa; Tĩnh vật”. (Theo Trịnh Lữ)

Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc vẽ tĩnh vật không nhiều. Ông chỉ vẽ tĩnh vật khi thời tiết không được thuận lợi cho việc di chuyển ngoài đường để vẽ ngoại cảnh.

Chủ đề tĩnh vật được ông khắc họa trong tranh thật dung dị, mộc mạc những đồ vật, hoa trái, vật dụng gắn bó với đời sống thường ngày. Chỉ cần nhìn tên tranh “Tích xưa men cũ”; “Vỏ xà cừ, vỏ gốm”; “Hoa hồng và khế”; “Tam sơn”; “Hoa súng bát ngọc”; “Sen”; “Dứa, vải thiều”; “Hoa trái quanh nhà”; “Men ngọc”; “Ấm xanh bát và men nâu”; “Hoa sen và dừa” v.v… đã cảm thấy những bình yên, thanh thản.

Bởi vì “ông vẽ cái tự tướng của những nhân vật quen thuộc ấy, nên toàn lấy tên nôm na của chúng làm tên tranh của mình”. (Theo Trịnh Lữ).

Bức tranh tĩnh vật sơn dầu nhỏ xinh mô tả hoa và quả này gợi nhiều tính “thanh”; ở đây là thanh khiết, thanh thản. Hòa sắc roi rói tươi mát xanh của lá, hồng ấm của hoa, đậm đà, đằm thắm màu vàng quả chín mùa thu khiến cho thấy một khoảnh khắc hân hoan hơn trong cảm xúc cá nhân cân bằng đã được tôi rèn kỹ lưỡng của ông.

Ngắm nhóm tĩnh vật sen và mít trong một ngày thu man mác, trời xanh, nắng nhẹ, gió hanh hao, khiến cho chúng ta chợt nhớ đến mấy câu cảm thán “hạ mãn thu lai - hè qua thu tới” thật dịu dàng của người xưa mà ta đã đọc ở đâu đó…

Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc, tốt nghiệp khóa IX (1933-1938), Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng với Nguyễn Đức Nùng, Phạm Thúc Chương, Nguyễn Văn Bái, Nguyễn Dung, Hoàng Lập Ngôn… Vì vậy, hội họa Trịnh Hữu Ngọc dựa trên nền tảng, bút pháp căn bản của hệ thống mỹ thuật hàn lâm cổ điển châu Âu. Ông sáng tác theo lối tả thực cổ điển Tây phương, có vẻ gần với bút pháp của chủ nghĩa Ấn tượng.

Trịnh Hữu Ngọc say mê thiên nhiên ngay từ khi còn trẻ. Năm 1939, ông đã có hai chuyến đi vẽ xa bằng xe đạp. Một chuyến lên Cao Bằng và một chuyến xuôi quốc lộ xuống Sài Gòn.

Năm 1943 ông đã mua đất, làm nhà và phòng vẽ trên đỉnh núi Ba Vì, nhìn xuống nơi sông Đà chảy lượn lên phía Bắc để hợp lưu với sông Hồng (Theo Trịnh Lữ).

Năm 1988, ông có triển lãm cá nhân mang tên “Latest works by Zen Painter Trịnh Hữu Ngọc” tại Nhà Triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội. Từ triển lãm này ông bắt đầu được gọi là Nghệ sỹ Thiền họa Tây Hồ.

***
Tiểu sử họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc
• Sinh ngày 12 tháng 4 năm 1912
• Mất năm 1997 tại Hà Nội
• Dân tộc: Kinh
• Nguyên quán: Hà Bắc
• Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương 1938
• Người sáng lập thương hiệu nội thất MÉMO (1940-1954)
• Hội viên ngành: Hội hoạ - Hội Mỹ thuật Việt Nam
• Năm vào Hội: 1957
• Tác phẩm chính: Chuyên vẽ phong cảnh và tĩnh vật
• Triển lãm cá nhân lần thứ nhất “Latest works by Zen Painter Trịnh Hữu Ngọc” năm 1988, tại Nhà Triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội
• Triển lãm cá nhân lần thứ hai năm 1992 tại Paris, Pháp
• Khen thưởng: Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam

Bài viết bởi Viet Art View
Bản quyền thuộc về Viet Art View
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Address

Hanoi
10000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when VIET ART VIEW posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category