VIET ART VIEW

VIET ART VIEW Công ty tư vấn toàn diện về Nghệ thuật

TỀ BẠCH THẠCH VÀ NHỮNG CON TÔM MỞ LỐI VÀO THẾ GIỚI CỦA NƯỚCNhìn nghiêng một con tôm, chúng ta chìm đắm vào thế giới của ...
28/04/2026

TỀ BẠCH THẠCH VÀ NHỮNG CON TÔM MỞ LỐI VÀO THẾ GIỚI CỦA NƯỚC

Nhìn nghiêng một con tôm, chúng ta chìm đắm vào thế giới của nước. Ngay cả bộ râu mảnh mai cũng ẩn chứa một vũ trụ thu nhỏ. Ấn tượng mà tài năng của một họa sĩ tạo ra có thể vượt xa thực tế.

Những con tôm - đến từ Tương Đàm, Hồ Nam, thiên đường của suối, ao và bãi cỏ - được vẽ ra bởi Tề Bạch Thạch. Nhà của ông nằm trong một con hẻm ở Bắc Kinh, chiếc sân được tô điểm bởi hoa cỏ, là nơi thu hút những người sành nghệ thuật. Ngay cả những người không quan tâm tới nghệ thuật cũng biết về Tề Bạch Thạch, họa sĩ nổi tiếng đã sống ở đây.

Ông có thể làm cho những con tôm sống động đến mức chúng dường như đang bơi trên bức tranh.

Không giống những tiền bối cổ xưa, Tề Bạch Thạch đã sử dụng các sắc thái mực khác nhau để tạo hình thân và đầu tôm. Phần thân trông sẽ mờ hơn, còn phần đầu thì có độ rắn chắc. Những nét vẽ tưởng như hờ hững thực ra lại rất có chủ tâm, thận trọng và khó nhọc. Từng phần của thân tôm, từng chiếc râu rung động truyền tải sức cản của nước và nỗ lực thể chất của chúng. Những sinh vật này không phải là đối tượng thụ động. Đúng hơn là chúng đang khẳng định sự hiện diện của mình.

“Kỹ thuật vẽ tôm của Tề Bạch Thạch đã được nhiều người ngưỡng mộ. Như chúng ta có thể thấy, con tôm đang bơi cảm nhận được sức cản và lực đẩy của nước. Sức cản có xu hướng tác động lên những sợi râu và dẫn đến những đường gợn sóng. Theo quan sát của ông Lý Khả Nhiễm, điều khiến Tề Bạch Thạch trở nên khác biệt, nằm trong sự khoan thai của ông. Ngay cả khi vẽ một sợi râu, Tề Bạch Thạch cũng rất tỉ mỉ và chậm rãi. Thật ấn tượng. Tôi muốn lưu ý rằng chỉ màn trình diễn của những sợi râu là đủ làm kinh hãi tất cả những nghệ sĩ hậu bối. Bạn không thể không ngưỡng mộ thiên tài của ông.” - Wu Hongliang, Chủ tịch Học viện Mỹ thuật Bắc Kinh

Con tôm sống động chỉ là một cư dân trong kho hình tượng của Tề Bạch Thạch. Tài năng của ông còn được thể hiện với những cây bắp cải duyên dáng, quả hồng, quả lựu và những trái cây khác, rồi những loài côn trùng khác nhau. Ông vẽ cả những dụng cụ lao động trong gia đình như cái cào, giỏ, bàn tính.

Mọi người đã tự hỏi tại sao ông hay vẽ những thứ tầm thường, làm thế nào những nét vẽ của ông thấm nhuần sức sống như vậy. Để hiểu được hình tượng của Tề Bạch Thạch, ta cần một cái nhìn thoáng qua cuộc sống của ông ở Hồ Nam.

Tề Bạch Thạch sinh ra ở làng Tinh Đẩu, trong một gia đình nông dân. Vùng nông thôn đó là thiên đường của gà, vịt, các loài chim và côn trùng. Những con tôm bơi lội vô tư lự trong ao. Những đứa trẻ sinh ra, lớn lên và trưởng thành như mùa màng trên cánh đồng. Năm 19 tuổi, Tề Bạch Thạch học điêu khắc gỗ, sau đó ông học vẽ, hội họa, rồi trở thành một văn nhân.

Tiếng kêu của côn trùng đã đi cùng những năm tháng tuổi trẻ của ông. Ở đó, ông đã sống nhiều thập kỷ, số phận dường như đã an bài, ông có thể đã sống phần đời còn lại rồi biến mất vào cảnh đồng quê. Nhưng cuộc đời đột ngột rẽ hướng. Khi ông 54 tuổi, chiến tranh, loạn lạc và cướp bóc tràn đến vùng quê ông. Ông cảm thấy cần thiết phải đi về phía Bắc, đến Bắc Kinh, và cố gắng kiếm sống bằng nghề vẽ.

Ở Bắc Kinh, thành phố của văn hóa và lịch sử, có một truyền thống kết hợp hội họa và văn học hàng thiên niên kỷ. Các chủ đề bao gồm từ tĩnh vật hoa đến phong cảnh rộng lớn thể hiện khát vọng con người. Tề Bạch Thạch, một người mới đến từ vùng nông thôn, đã được xác định là kẻ ngoại lai.

Những năm tháng sống ở nông thôn đã nuôi dưỡng trong ông tình yêu và sự tôn thờ thiên nhiên. Vì vậy, ông vẽ những sinh vật sống trong cỏ, một sự khác biệt hoàn toàn so với những chủ đề từ trước đến nay của mỹ thuật truyền thống. Hình tượng của Tề Bạch Thạch giống như tiếng mẹ đẻ, trái ngược với những từ vựng nghệ thuật rất khó nắm bắt vào thời điểm đó. Ông chấp nhận những thứ tầm thường, từ chối tính ủy mị sáo rỗng, từ chối những phong cách cổ xưa.

“Điều gì thú vị ở đây? Đó là khát vọng của con người, dựa trên gu thẩm mỹ và sự tu dưỡng của bản thân. Trong mỹ thuật Trung Quốc, nhiều điều phụ thuộc vào tính chất gu thẩm mỹ của bạn.” - Wu Hongliang, Chủ tịch Học viện Mỹ thuật Bắc Kinh

Sau khi trở thành một họa sĩ nổi tiếng, tại căn nhà của mình, Tề Bạch Thạch vẫn theo thói quen ăn mì vào buổi sáng rồi vẽ, nghiên cứu và làm thơ cho tới khi trời tối. Những bức tranh ông vẽ ngoài sân đều lấy cảm hứng từ những ký ức nông thôn sống động và tình yêu quê hương sâu sắc nhất. “Tề Bạch Thạch có một niềm đam mê với cuộc sống và tình yêu với quê hương mình. Ông cố gắng để tác phẩm của mình đến được với đông đảo người xem. Ông thực sự là một họa sĩ bậc thầy, tài năng và uyên bác.” - Feng Yuan, Chủ tịch danh dự Hội họa sĩ Trung Quốc

Tình yêu đối với cuộc sống nông thôn trong một giai đoạn khủng hoảng quốc gia đã truyền cảm hứng cho những nguyên tắc của ông. Khi Trung Quốc bị xâm lăng và bức hại, ông viết với sự phẫn nộ: “Tôi nhìn ra, đau đớn thấy Trung Quốc không còn nguyên vẹn.”

Ông vẽ cua, ám chỉ sự ngạo mạn của những kẻ xâm lược. Bên cạnh đó, những chú chim mùa đông được ông thể hiện một cách đáng yêu, có thể truyền cảm hứng cho mọi người, thúc giục họ, không để bản thân cúi đầu trước nghịch cảnh. Một số người khuyên ông không nên làm như vậy. Ông đã nói: “Tôi là một ông già trong một thời loạn, cái chết với tôi là một chuyện nhỏ.”

Đây là một nghệ sĩ có nguyên tắc và chân chính của nhân dân. Đối với gia đình và đất nước, ông có một tình yêu không giới hạn.

Trong thập niên 1970 và 1980, hình tượng con tôm của Tề Bạch Thạch xuất hiện trên các đồ dùng hằng ngày. Mọi người đều quen thuộc với hình tượng của ông. Người ta gọi ông là họa sĩ của nhân dân.

“Sự nổi tiếng của ông là minh chứng cho một cuộc đời luôn hướng về nhân dân. Bất cứ ai xem tranh ông đều có thể thấy được tâm hồn thân thương nhất, chân thật nhất của một họa sĩ vĩ đại.” - Feng Yuan, Chủ tịch danh dự Hội họa sĩ Trung Quốc

Những sáng tạo cho nhân dân, nói lên tiếng nói của nhân dân, biểu lộ cho nhân dân - Tề Bạch Thạch đã mang mỹ thuật đến với đại chúng, những người dân bình thường nhất, nghệ thuật của ông đã hòa mình vào vĩnh cửu.

Nguồn: YouTube CGTN
Lược dịch bởi Viet Art View
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Viet Art View xin chia sẻ cùng bạn yêu nghệ thuật tác phẩm "Thiếu nữ thêu thùa" của họa sĩ Tố Phượng - một bản hòa sắc ê...
24/04/2026

Viet Art View xin chia sẻ cùng bạn yêu nghệ thuật tác phẩm "Thiếu nữ thêu thùa" của họa sĩ Tố Phượng - một bản hòa sắc êm dịu và ngọt ngào.
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

12 likes. "TRANH LỤA “THIẾU NỮ THÊU THÙA” CỦA TỐ PHƯỢNG- NHỮNG KHOẢNH KHẮC BÌNH YÊN"

Viet Art View xin thông báo lịch nghỉ lễ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất Đất nước và ngày Q...
24/04/2026

Viet Art View xin thông báo lịch nghỉ lễ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất Đất nước và ngày Quốc tế Lao động:

Công ty Viet Art View sẽ nghỉ lễ trong 06 ngày - các ngày 26/4, 27/4 và các ngày 30/4, 1/5, 2/5, 3/5. Trong thời gian nghỉ lễ, số hotline của chúng tôi vẫn hoạt động bình thường.

Chúc quý khách hàng, đối tác và bạn yêu nghệ thuật một dịp lễ vui vẻ, hạnh phúc ❤️
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Viet Art View xin chia sẻ cùng bạn yêu nghệ thuật một tác phẩm của họa sĩ Hoàng Hoanh: "Mẫu tử"________________VIET ART ...
22/04/2026

Viet Art View xin chia sẻ cùng bạn yêu nghệ thuật một tác phẩm của họa sĩ Hoàng Hoanh: "Mẫu tử"
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Theo sách "Mỹ thuật đô thị Sài Gòn-Gia Định 1900-1975" của tác giả Uyên Huy viết "Họa sĩ Nguyễn Hoàng Hoanh sinh năm 1937 tại Chợ Lớn cũ (Đức Hòa, Long An ng...

‘SỰ RA ĐỜI CỦA THẦN VỆ NỮ’, TÁC PHẨM CỦA ALEXANDRE CABANEL (1823 - 1889)‘Sự ra đời của thần Vệ nữ’ là một trong những th...
20/04/2026

‘SỰ RA ĐỜI CỦA THẦN VỆ NỮ’, TÁC PHẨM CỦA ALEXANDRE CABANEL (1823 - 1889)

‘Sự ra đời của thần Vệ nữ’ là một trong những thành công lớn của Salon 1863, nơi nó được Napoléon III mua lại cho bộ sưu tập riêng. Cabanel đã nhận được nhiều giải thưởng trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giảng dạy tại Ecole des Beaux-Arts [Trường Mỹ thuật] và điều hành Salon. Điển hình cho kỹ thuật điêu luyện của ông, tác phẩm là một ví dụ hoàn hảo về thị hiếu nghệ thuật phổ biến và chính thống của thời kỳ này.

Theo tinh thần chiết trung của Đế chế thứ hai, ông kết hợp những tham khảo từ Ingres với phong cách hội họa của thế kỷ XVIII.

Cabanel đã lấy chủ đề từ một tình tiết nổi tiếng trong thần thoại Hy La: nữ thần Tình yêu sinh ra từ bọt biển và được đưa vào bờ. Chủ đề này, rất phổ biến vào thế kỷ XIX, đã tạo cơ hội cho một số họa sĩ thể hiện vẻ đẹp gợi cảm mà không xúc phạm công chúng, với lý do tái hiện một chủ đề cổ điển. Đối với Cabanel, chủ đề thần thoại thực sự là cái cớ để vẽ một nhân vật khỏa thân, mặc dù được lý tưởng hóa, nhưng vẫn được miêu tả trong tư thế gợi cảm.

Emile Zola đã tố cáo sự mơ hồ này: “Nữ thần, đẫm trong biển sữa, giống một tình nhân tuyệt đẹp, nhưng không phải bằng xương bằng thịt, điều đó sẽ không đứng đắn, mà bằng sắc hồng và trắng của bánh hạnh nhân.” Nhà văn hẳn đã chán một bảng màu óng ánh, nhạt, nhẹ nhàng.

Cùng năm đó, ‘Olympia’ của Edouard Manet đã gây ra một vụ tai tiếng. Chủ đề của hai tác phẩm giống hệt nhau: khỏa thân nằm nghiêng. Với sự tự tin và điềm tĩnh, nhân vật của Manet nhìn thẳng vào người xem, khiêu khích hơn nhiều so với Vệ nữ trong tư thế uể oải của Cabanel.

Nguồn: Bảo tàng Orsay
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Viet Art View xin chia sẻ cùng bạn yêu nghệ thuật tác phẩm "Đoan trang" của họa sĩ Lê Huy Hòa.NHỮNG KỶ NIỆM VỀ BỨC TRANH...
17/04/2026

Viet Art View xin chia sẻ cùng bạn yêu nghệ thuật tác phẩm "Đoan trang" của họa sĩ Lê Huy Hòa.

NHỮNG KỶ NIỆM VỀ BỨC TRANH LỤA “ĐOAN TRANG” CỦA HỌA SĨ LÊ HUY HÒA (1932-1997)

Theo cuốn “Từ điển họa sĩ” của nhà phê bình mỹ thuật Quang Việt, họa sĩ Lê Huy Hòa quê huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Học trường Mỹ thuật Việt Nam, “Khóa kháng chiến”; Giải nhất về trình bày sách, cuốn “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1953); Từng đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Hòa bình lập lại, ông là họa sĩ chính của xưởng phim hoạt hình Việt Nam.

Thời kỳ đầu, ông chủ yếu vẽ tĩnh vật và phong cảnh (sơn dầu hoặc sơn mài), bút pháp thiên về đồ họa trang trí. Từ 1972, ông thực hiện hai loạt tranh sơn dầu khổ lớn: “Bài ca về ngã ba Đồng Lộc” (giải nhất Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1990) và “Khát vọng” - như để mở một lối đi vào khuynh hướng hiện thực “thần diệu” của phái siêu thực bằng kỹ thuật tạo ảo giác với những màu dịu lạnh… Thời kỳ cuối, ông trở lại với tranh phong cảnh, thiếu nữ hoặc thể hiện các motif biểu tượng của nghệ thuật điêu khắc cổ.

Đây là một trong những bức tranh đẹp nhất trong sự nghiệp sáng tác của Lê Huy Hòa. Bao nhiêu năm nay, ảnh chụp bức tranh này dù đã được in trong rất nhiều cuốn sách nhưng mấy người đã được ngắm nhìn trực tiếp. Không những thế, qua nhiều lần chỉnh sửa, ảnh chụp bức tranh đã bị cắt đi một trong những chi tiết quan trọng nhất là chữ ký cùng lời tựa đề tặng trong tranh của tác giả.

Trong cuốn “Tranh lụa Việt Nam”, Nhà xuất bản Mỹ thuật, năm 1992, ghi chú thích “Thiếu nữ ngồi trên đôn bên bức tranh hổ cổ”. Trên thực tế, bức tranh có tựa đề “Elegance - Đoan trang”. Chi tiết này đã được ghi rất rõ trên 2 nhãn giấy dán phía sau tấm gỗ mặt sau tranh. Một nhãn có vẻ là “danh thiếp” ghi rõ “ELEGANCE” Silk… by LE HUY HOA. Đề tài “ĐOAN TRANG” chất liệu lụa. Khuôn khổ 65 × 45 cm. Không những thế còn có địa chỉ 38 Hoàng Hoa Thám (nhà riêng của họa sĩ Lê Huy Hòa) và giá bán 1600 USD.

Nhãn giấy thứ hai cũng có nội dung tương ứng ghi rõ Hội Văn nghệ Hà Nội. Đây chắc là phiếu nhận tranh gửi của Hội những năm thập niên 80, 90. Khi được nhìn ngắm, tiếp xúc trực tiếp với bản tranh lụa gốc, ngoài chữ ký của Lê Huy Hòa, còn có dòng chữ đề tặng quý giá “Tặng T.B.L”…

Chỉ dựa vào ba chữ quý giá ấy, biết chút ít về cuộc đời của ông, chúng ta có thể hiểu ngay câu chuyện trong bức tranh. T.B.L là viết tắt của tên gọi “Trần Bạch Liên”, người phụ nữ hết mực yêu thương ông; ở cùng và chăm sóc ông cho đến tận khi ông qua đời vào năm 1997.

Bức tranh khắc họa hình ảnh một thiếu nữ đang ngồi trên chiếc đôn trong tà áo dài màu vàng tươi, sáng bừng bên cạnh bức tranh hổ. Chiếc đôn (sứ) được cách điệu với những họa tiết trang trí rất độc đáo, đẹp đến lạ kỳ. Có lẽ, nếu không có hình ảnh chiếc đôn sứ gam màu xanh ấy thì chưa chắc bức tranh đã có hiệu ứng thẩm mỹ đặc biệt như thế.

Thế mạnh của Lê Huy Hòa là những sáng tác mang tính “trang trí đồ họa”. Ông thường tạo không gian xa gần trong tranh bằng tương quan đậm nhạt với cách vờn sáng tối trên khối hình. Ở bức tranh “Đoan trang”, ông chỉ dùng mảng phẳng đặt nối tiếp. Các chi tiết, hình thể trên mặt tranh được tạo bằng không gian ước lệ. Gần với ngôn ngữ của tranh dân gian Đông Hồ. Sự nữ tính, dịu dàng rất đỗi đoan trang, thanh lịch của nhân vật nữ cảm giác được tạo khởi từ yêu thương trong chính họa sĩ. Nó điều khiển nét bút trở nên nhẹ nhàng, đong đầy tình cảm.

Khi được hỏi về hoàn cảnh ra đời bức tranh, bà Bạch Liên tâm sự: “Bức tranh nay hồi mới lên còn thong thả thời gian lắm. Thời gian còn nhiều là một, cái thứ hai nữa là tình cảm còn đắm cho nên là vẽ tặng ngay. Cô làm gì có áo dài, lúc bấy giờ phải đi mượn, đi thuê. Mượn chứ không phải là thuê. Giờ này làm gì có mà mà thuê, phải đi mượn, mặc nó hơi kích một tí, thôi thì cứ “uốn éo” cho nó xong đi…”

Thoạt tiên, bức tranh thuộc sở hữu một nhà sưu tập nổi tiếng ở Hà Nội. Nhà sưu tập này rất thích bức tranh, đã qua lại nhà họa sĩ nhiều lần để hỏi mua mà không được. Theo lời kể của bà Trần Bạch Liên, vào những năm tháng cuối đời, họa sĩ đã phải bán bức tranh mà ông yêu quý đi để có thêm tiền trang trải chữa bệnh.

Họa sĩ Lê Huy Hòa chỉ sáng tác một bản tranh lụa “Đoan trang” duy nhất này thôi - bà Trần Bạch Liên khẳng định. Sau ông không sáng tác theo phong cách này nữa. Có mỗi một bức tranh lụa duy nhất, giữ mãi cho đến năm 1996 đấy, vẽ ở 38 Hoàng Hoa Thám.

Cuối cùng tất cả mọi thứ sẽ đi qua, sẽ vào quá khứ. Chỉ còn tình yêu thương ở lại trong tâm trí người đang sống. Đó là sự kỳ diệu của tình yêu.

Bài viết của Viet Art View
Bản quyền thuộc về Viet Art View
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Họa sĩ Trọng Kiệm ghi dấu ấn trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam bằng những tác phẩm hội họa cực kỳ khác biệt. Sự khác biệ...
15/04/2026

Họa sĩ Trọng Kiệm ghi dấu ấn trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam bằng những tác phẩm hội họa cực kỳ khác biệt. Sự khác biệt này đến từ phong cách nhất quán theo một hướng khai phá tiềm năng nội tại của người nghệ sĩ. Viet Art View xin chia sẻ cùng bạn yêu nghệ thuật tác phẩm "Cảnh miền núi" của ông.

“CẢNH MIỀN NÚI”, MỘT TÁC PHẨM CỦA HỌA SĨ TRỌNG KIỆM

Theo một tư liệu hiện còn giữ được, tại cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên và duy nhất của Trọng Kiệm với tiêu đề “Triển lãm tác phẩm Hội họa của họa sĩ Nguyễn Trọng Kiệm” do Hội Nghệ sĩ Tạo hình Việt Nam và Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp tổ chức tại Nhà triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội từ ngày 7 đến ngày 25 tháng 2 năm 1987, tổng số lượng tranh trưng bày là 96, toàn bộ là tranh sơn dầu, trong đó có khoảng 30 tranh phong cảnh. Trong số tranh phong cảnh có 9 tranh được tác giả đặt tên “Cảnh miền núi” và được tác giả đánh số từ 1 tới 9, nhưng không đánh theo trình tự thời gian. Chín tranh này đã được vẽ từ năm 1982 đến 1984. Và nếu dựa theo năm sáng tác - 1983 và kích thước - 60 × 80 cm, thì bức tranh đang được giới thiệu ở đây có thể là một trong các bức “Cảnh miền núi” đã được đánh số từ 3 đến 6, và đương nhiên, nó rất đặc trưng cho phong cách hội họa của Trọng Kiệm ở thời kỳ cuối, bởi ông đã mất vào năm 1991.

Số lượng tranh phong cảnh trong triển lãm cũng nói lên sở thích vẽ phong cảnh của họa sĩ.

Trong nền hội họa Việt Nam hiện đại, Trọng Kiệm là một họa sĩ “có chương trình” rất điển hình. Nghệ thuật ông tiến triển tuần tự từ hiện thực lãng mạn sang một phong cách hiện thực mới mang tính biểu tượng và trang trí, đậm dấu ấn cá nhân, và bao giờ cũng vẫn lãng mạn. Tranh của ông chỉ thoáng nhìn đã nhận ra ngay “của Trọng Kiệm”, gần như cách biệt hẳn với mọi nguồn ảnh hưởng mà ông đã dày công nghiên cứu, tham khảo, học tập và chuyển hóa thành một giá trị độc lập mang một sắc thái rất Việt Nam, điều chỉ có thể tìm thấy ở số hiếm các họa sĩ tài năng thực thụ.

Trên tranh Trọng Kiệm, đặc biệt các tranh ở thời kỳ sau 1970, rất dễ nhận ra nguyên lý kết hợp biểu tượng và trang trí vốn có truyền thống lâu đời trong nghệ thuật Á Đông. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là hầu hết các họa sĩ Việt Nam hiện đại lại quay về với truyền thống Á Đông này thông qua sự đúc kết và chuyển hóa truyền thống ấy của các họa sĩ phương Tây hiện đại, đặc biệt qua các tác phẩm của một số bậc thầy hậu ấn tượng như Van Gogh, Gauguin, hoặc nhóm Nabis, nơi các họa sĩ phương Tây biểu lộ sự ngưỡng mộ nhiệt thành, niềm cảm hứng tươi mát, mới mẻ trước tranh khắc gỗ Nhật Bản thế kỷ 17 và nghệ thuật thư pháp Á Đông. Đặc biệt kể từ sau cuộc triển lãm phiên bản chạm khắc đình, chùa làng do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức vào năm 1972, nhận thức về giá trị nghệ thuật dân tộc, Việt Nam-Á Đông, qua nguyên lý “trang trí và biểu tượng” lại càng được các họa sĩ, các nhà điêu khắc Việt Nam thấm nhuần và thấu tỏ. Họ tiếp tục đào sâu, tìm kiếm những phương tiện biểu đạt tạo hình đơn giản, sơ đồ hóa, đồ họa hóa, giành lại ưu thế tối thượng cho mảng và nét trong mối quan hệ thẩm mỹ thông qua chuyển động và nhịp điệu, hình thành nên những quy thức tạo hình mới làm nền tảng cho tính thống nhất và tính khái quát. Sự phát huy các năng lực trí tuệ khởi sơ dường như chỉ nhằm “thuận tiện” cho việc khắc, càng về sau càng được khẳng định như là mục tiêu tối cao của nghệ thuật.

Là một nhà hội họa hoạt động trong môi trường “mỹ thuật công nghiệp”, Trọng Kiệm đặc biệt có lợi thế về tư duy cấu trúc hình học và khả năng ký hiệu hóa. Ông đã sớm tạo ra cho riêng mình một đồng bộ “hình-màu-không gian” riêng biệt, có chủ đích, mà từ đó ông có thể thể hiện mọi đối tượng, đề tài, mọi mặt của đời sống xã hội. Về căn bản, nghệ thuật ông là quá trình tìm kiếm và đổi mới trong chất liệu sơn dầu, tựa như một phương tiện để ông liên hệ, tham chiếu và theo sát với các trào lưu nghệ thuật hiện đại phương Tây. Có vẻ như, cứ qua mỗi một thập kỷ (50, 60, 70, 80 của thế kỷ trước), hội họa ông lại có thêm những biến thức và sắc thái mới, để cuối cùng, thanh thản hút con mắt người xem vào những mảng màu, vệt màu, đốm màu vừa quen vừa lạ, nửa thực nửa hư, đánh thức và làm rung động người xem trên hết bằng cái đẹp của nhận thức và trí tưởng tượng. Hình thức đặc biệt ở đây là từ bên trong mà ra, là kết quả của cái nhìn từ bên trong qua thấu kính tâm hồn của người nghệ sĩ, mang đầy tính biểu hiện, sinh động và tự nhiên, khác xa với những “tấm phông sân khấu” mà ta có thể gặp ở một số họa sĩ sáng tác theo phong cách hiện đại khác.

Theo thông lệ chung trên thế giới, đặc biệt trong điều kiện, hoàn cảnh ở nước ta, niềm hy vọng về một cuộc triển lãm hồi cố mang tính chất tổng quát về hội họa Trọng Kiệm là hết sức mong manh. Nhưng vẫn còn may vì khá nhiều tác phẩm của ông vẫn còn được lưu giữ trong nước. Riêng tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, ông là một trong số ít các họa sĩ có nhiều tác phẩm nhất. Việc đánh giá đầy đủ và toàn diện về nghệ thuật Trọng Kiệm và những đóng góp của ông cho nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam hẳn nhiên còn cần phải được tiếp tục thông qua nhiều công phu sưu tầm, khảo sát, nghiên cứu. Bất cứ một tác phẩm nào, một hiện vật nào do ông để lại cũng đều đáng trân trọng, là những tư liệu quý, và sự hiện diện của bức tranh “Cảnh miền núi” ở đây chắc chắn sẽ gây nhiều hứng thú cho các nhà nghiên cứu và người xem.

TRỌNG KIỆM (NGUYỄN TRỌNG KIỆM)
- Sinh ngày 1 tháng 1 năm 1934 (còn có thể là năm 1930)
- Mất ngày 29 tháng 8 năm 1991
- Quê quán: xã Quang Trung, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
- Tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Việt Nam, Khóa Kháng chiến (1950-1954)
- Giảng viên Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội (từ 1955 đến 1991)
- Chất liệu sáng tác: màu nước, mực nho, lụa, sơn mài, sơn dầu
- Đề tài: cách mạng, chiến tranh cách mạng, sinh hoạt, đời sống xã hội, phong cảnh, chân dung, Gióng…
- Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2001.

Bài viết của Nhà phê bình Mỹ thuật Quang Việt
Bản quyền thuộc về Viet Art View
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

PETER PAUL RUBENS, ‘KHU VƯỜN TÌNH YÊU’Với ‘Khu vườn tình yêu’, chúng ta được thấy một trong những khía cạnh tuyệt vời nh...
14/04/2026

PETER PAUL RUBENS, ‘KHU VƯỜN TÌNH YÊU’

Với ‘Khu vườn tình yêu’, chúng ta được thấy một trong những khía cạnh tuyệt vời nhất của Rubens - tài năng tạo ra hình ảnh về một cuộc sống vui tươi lấy cảm hứng từ văn học cổ đại và nghệ thuật Phục Hưng, một cuộc sống gắn liền với tình yêu. Bức tranh này đặc biệt gần gũi với ‘Tiệc rượu của người Andros’ và ‘Lễ thờ thần Venus’ của Titian. Nhiều chi tiết trong khung cảnh gợi nhớ đến Titian: Sự hiện diện đồng thời của các nhân vật thần thoại và các nhân vật đời thực, vai trò chủ tọa của Venus, những đứa trẻ có cánh, bối cảnh thiên nhiên và màu sắc phong phú, bầu không khí gợi cảm, những ẩn ý về tính dục, âm nhạc, kích thước tương đối của các nhân vật. Rubens biết đến các tác phẩm của Titian, rất có thể thông qua các bản sao (chúng vẫn chưa đến Tây Ban Nha khi ông đến lần cuối vào năm 1628-29), và đã thực hiện hai phiên bản của chúng vào khoảng thời gian ông tạo ra ‘Khu vườn tình yêu’. Trong bức tranh này, chúng ta thấy Rubens đã hoàn toàn tiếp thu ảnh hưởng của Titian, bậc thầy người Venice.

Trong nghệ thuật của mình, Rubens liên kết lý tưởng về một khung cảnh thiên nhiên trù phú với nhiều tình huống khác nhau, từ những huyền thoại cổ xưa và Kitô giáo đến những ý tưởng về một chính quyền hiệu quả ở quê hương ông, Hà Lan thuộc Tây Ban Nha [triều đại Habsburg]. Ở đây, ông đưa nó đến gần hơn với cuộc sống cá nhân. Trên nền một khu rừng rậm rạp và bầu trời được tô điểm bằng những sắc màu tuyệt đẹp, có một chiếc sân được bao quanh bởi mái cổng. Chiếc sân này được xây dựng theo phong cách Ý cuối thế kỷ XVI mà Rubens đã viết trong cuốn sách ‘Palazzi di Genova’ xuất bản năm 1622, và ông đã sử dụng phong cách này để thiết kế dinh thự nguy nga của mình ở Antwerp. Trong vườn cũng có một hang động nông với bức tượng thần Venus, nữ thần tình yêu, người chủ trì toàn bộ khung cảnh. Một trong những người phụ nữ trong buổi tụ họp, mặc đồ màu xanh lam, có nét giống Helena Fourment, vợ của Rubens lúc bấy giờ. Nếu chúng ta nhìn vào bức chân dung Helena do Rubens vẽ tại Alte Pinakothek ở Munich, theo tôi, sự giống nhau là không thể bác bỏ. Một vấn đề khác là liệu điều này có ngụ ý sự đồng nhất cá nhân của Rubens với câu chuyện được mô tả hay chỉ đơn giản là sử dụng một hình mẫu phụ nữ lấy cảm hứng từ vợ ông.

Như thường lệ với Rubens, một họa sĩ có trình độ cao, các chi tiết biểu tượng là rất phong phú với những ẩn dụ bổ sung ý nghĩa cho bức tranh. Ví dụ, con công bên cạnh thần Venus được hiểu là ngụ ý về thần Juno và một trong những biểu trưng của thần, tình mẫu tử. Rubens có thể đã muốn thêm sắc thái này vào chủ đề tình yêu. Bên trong cổng vòm là bức tượng Ba nàng tiên [Three Graces], những người bạn đồng hành thường xuyên của thần Venus. Những nhân vật thần thoại khác trong tranh là những cậu bé có cánh được thể hiện bằng xương bằng thịt thay vì bằng đá, qua đó thổi hồn vào thế giới thần thoại mà chúng ta đang chứng kiến. Rubens thích vẽ những nhân vật kiểu này và thích thêm sự đa dạng bằng cách miêu tả một số có cánh chim, số khác có cánh côn trùng, sự khác biệt mà ông đã thấy trong nghệ thuật cổ đại. Một số đứa trẻ này có thể được đồng nhất với thần Cupid vì chúng mang theo cung tên. Một trong số chúng cầm một dải ruy băng đỏ buộc vào hai con chim bồ câu, sự kết hợp của tình yêu (bồ câu gắn liền với thần Venus). Đứa trẻ ở trung tâm cầm ngọn đuốc và một vương miện kết bằng hoa, những đặc điểm nhận dạng của H***n, thần hôn nhân (Rubens cũng vẽ vị thần này với cùng đặc điểm, nhưng lớn hơn, trong một bức tranh thuộc bộ sưu tập Medici). Người phụ nữ mặc đồ màu xanh lá cây đang ngồi và ngước nhìn cậu bé. Liệu Rubens có đang cố gắng làm nổi bật vị thần này ở đây không? Người phụ nữ đang nhìn lên chiếm chính xác trung tâm của bố cục, có thể củng cố ý tưởng này.

Thần Venus ngụ ý rằng tình yêu tràn ngập khung cảnh. Những đứa trẻ có cánh mang đến nhiều tình yêu hơn nữa, một số trong đó đặc biệt gắn liền với hôn nhân, như chúng ta đã thấy. Đám đông tụ họp, họ mặc những bộ trang phục đương thời - những tấm vải màu lấp lánh và những nếp gấp là một nét đẹp của khung cảnh này. Nhóm người ở phía sau, dưới cổng vòm, gợi cho tôi nhớ đến bức tranh ‘Vũ điệu của những nhân vật thần thoại’. Một trong những người đàn ông chạm vào ngực của một người phụ nữ trong khi bảo vệ người kia khỏi một vòi nước bằng mũ của mình. (Trong một bản in của Christoffel Jegher được thực hiện không lâu sau đó, bàn tay chạm vào ngực đã được di chuyển xuống một chút. Rubens ít quan tâm đến sự nhã nhặn so với các họa sĩ cùng thời.)

Hầu hết các nhân vật ở tiền cảnh đều có trạng thái tinh thần nghiêm túc hơn. Một người đàn ông với tư thế kỳ lạ gợi nhớ đến Rembrandt đang chơi đàn luýt. Bên cạnh anh ta là một người phụ nữ mặc đồ màu xanh lá cây đang ngồi, dường như đang hát, và một đứa trẻ cầm cuốn sách nhạc. Người phụ nữ ở tiền cảnh mời nhân vật mặc đồ màu xanh lam ngồi xuống, hoặc có thể đang bảo cô ấy chạm vào thần Cupid.

Ý tưởng về tình yêu mà chúng ta thấy ở đây liên quan đến cuộc sống cá nhân của Rubens. Ông góa vợ vào năm 1626 và kết hôn với Helena vào cuối năm 1630. Từ đó trở đi, ông sống trong trạng thái say mê.

Vergara, Alejandro, ‘Bình luận’, từ: Những đam mê thần thoại, Madrid, Bảo tàng Quốc gia Prado, 2021, trang 106-110 nº9

NGUỒN: BẢO TÀNG QUỐC GIA PRADO
Lược dịch bởi Viet Art View
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

11/04/2026

Phiên Duplex "Hồn Việt: Nghệ thuật xưa và hiện đại" của Millon sẽ diễn ra vào 12h00 (giờ Pháp) / 17h00 (giờ Việt Nam) ngày hôm nay.

MAI TRUNG THỨ, “ÔN BÀI”Với tác phẩm “Ôn bài”, chúng ta quay trở về tuổi thơ, thấy lòng mình ấm áp trước gương mặt trong ...
10/04/2026

MAI TRUNG THỨ, “ÔN BÀI”

Với tác phẩm “Ôn bài”, chúng ta quay trở về tuổi thơ, thấy lòng mình ấm áp trước gương mặt trong sáng của bé gái đang tập trung. Hai bàn tay cô bé đan lại, hoàn thiện một bố cục đối xứng. Hòa sắc của tác phẩm tạo cảm giác ấm và dịu nhẹ. Người xem có thể thấy nguồn sáng xuất phát từ đằng sau cô bé. Nguồn sáng này giống như một nguồn sáng của phúc đức từ gia đình, biểu hiện ở sự chỉn chu trong trang phục và kiểu tóc nhân vật. Nét mặt và tư thế của em cũng cho thấy một sự giáo dục tốt. Tác phẩm thực sự gây thiện cảm qua việc thể hiện một hình thức mẫu mực đậm tính truyền thống. Mai Trung Thứ gửi gắm trong tác phẩm cả ký ức và tình cảm gia đình, hình ảnh em gái đang ôn bài được ông khắc họa thành một dấu ấn đẹp đẽ của thời thơ ấu.

MAI TRUNG THỨ (1906-1980)
“Ôn bài”, 1961
Màu nước trên lụa
21 × 15 cm

Millon
Phiên Duplex - 11/04/2026
HỒN VIỆT: NGHỆ THUẬT XƯA VÀ HIỆN ĐẠI
L’ÂME DU VIETNAM: ARTS ANCIENS ET MODERNES

Liên hệ:
[email protected]
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

MỘT TÁC PHẨM TĨNH VẬT HOA CỦA HỌA SĨ LƯƠNG XUÂN NHỊTháng tư mang sự nồng ấm ngay trong sắc trắng tinh khôi của những bôn...
09/04/2026

MỘT TÁC PHẨM TĨNH VẬT HOA CỦA HỌA SĨ LƯƠNG XUÂN NHỊ

Tháng tư mang sự nồng ấm ngay trong sắc trắng tinh khôi của những bông loa kèn. Lương Xuân Nhị còn gợi ra độ dày, độ xốp trên những cánh hoa. Vẻ đẹp của chúng nổi bật hơn nữa trong bố cục chia theo chiều dọc giữa màu nóng và màu lạnh. Ông đã sắp đặt một tổ hợp tĩnh vật cùng hoa loa kèn, trong đó đặc biệt là bức tranh chủ đề chèo của Bùi Xuân Phái và một tấm khăn thổ cẩm, những mảng màu rực rỡ này cùng với hoa làm nên tính nhịp điệu cũng như sự cân bằng cho tác phẩm.

LƯƠNG XUÂN NHỊ (1914-2006)
“Hoa loa kèn bên tranh (thiệp) Chèo”, khoảng 1980-1990
Sơn dầu trên vải
65 × 50 cm

Millon
Phiên Duplex - 11/04/2026
HỒN VIỆT: NGHỆ THUẬT XƯA VÀ HIỆN ĐẠI
L’ÂME DU VIETNAM: ARTS ANCIENS ET MODERNES

Liên hệ:
[email protected]
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

“NẮNG QUÊ HƯƠNG”, MỘT TÁC PHẨM CỦA HỌA SĨ TRẦN ĐÌNH THỌ🖌️ Kỷ niệm đặc biệt trong ký ức…Trong cuốn "Tự truyện 1947", nhà ...
09/04/2026

“NẮNG QUÊ HƯƠNG”, MỘT TÁC PHẨM CỦA HỌA SĨ TRẦN ĐÌNH THỌ

🖌️ Kỷ niệm đặc biệt trong ký ức…

Trong cuốn "Tự truyện 1947", nhà văn Tô Hoài có ghi lại một kỷ niệm đặc biệt về lễ kết nạp Đảng của một số văn nghệ sĩ trong những năm đầu kháng chiến, trong đó có nhà văn Nam Cao, họa sĩ Trần Đình Thọ và một nhân viên in ấn tên là Phúc Mơ. Cảnh tượng được miêu tả giản dị mà xúc động:

“Chúng tôi ở trong lán. Họa sĩ Trần Đình Thọ vẽ một hình búa liềm to cài trên vách nứa. Trên sàn có một ống tre cắm hoa mua, hoa sim… Phúc Mơ giơ tay thề tuyệt đối trung thành với Đảng, nước mắt ứa ra, cũng như khi Nam Cao giơ tay thề như thế…”

Không gian buổi lễ chỉ là một căn lán giữa rừng, biểu tượng búa liềm được vẽ trên vách nứa, vài cành hoa rừng cắm trong ống tre - tất cả đều hết sức mộc mạc. Nhưng chính trong sự mộc mạc ấy lại hiện lên một bầu không khí thiêng liêng và xúc động. Đặc biệt, lời tâm sự của Phúc Mơ trong đêm hôm đó đã mở lại một ký ức lịch sử đau thương:

“Anh ạ, tôi nhớ bố mẹ tôi, tôi thương bố mẹ tôi, bố mẹ tôi chết năm đói cả rồi.”

Chỉ bằng vài dòng ngắn ngủi, Tô Hoài đã gợi lên ký ức về nạn đói năm Ất Dậu 1945, một trong những bi kịch lớn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại. Nỗi đau mất mát của cá nhân Phúc Mơ đồng thời phản chiếu số phận của hàng triệu người dân Việt Nam trong những năm tháng ấy.

Vì thế, đoạn văn không chỉ đơn thuần ghi lại một lễ kết nạp Đảng của những người làm văn nghệ, mà còn mang sắc thái lãng mạn đặc biệt của thời kháng chiến; giữa gian khổ, mất mát, những con người ấy vẫn lựa chọn con đường dấn thân, đặt niềm tin vào lý tưởng và tương lai vào cách mạng.

Với họa sĩ trẻ Trần Đình Thọ, đó là một trong những kỷ niệm đặc biệt không bao giờ phai mờ trong tấm trí suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình. Những ký ức ấy lắng lại thành nhiều tầng cảm xúc, chờ đợi được chuyển hóa thành đường nét và sắc màu trên mặt tranh, trở thành nguồn cảm hứng cho những sáng tác quan trọng của ông những năm hòa bình sau này.

Tốt nghiệp khóa XIII (1939 - 1944) của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Trần Đình Thọ là một trong những nghệ sĩ sớm tham gia cách mạng từ những năm đầu của cuộc kháng chiến. Từ năm 1946 đến 1953, ông lên chiến khu, phục vụ cách mạng, đồng thời tiếp tục vẽ ký họa, ghi lại đời sống kháng chiến. Lễ kết nạp Đảng năm 1947 trong truyện ngắn của Tô Hoài cho thấy ông sớm đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Sau chín năm kháng chiến, hòa bình được lập lại ở miền Bắc năm 1954, họa sĩ Trần Đình Thọ cùng nhiều văn nghệ sĩ từ chiến khu trở về Hà Nội. Ngoài chiếc ba lô nhỏ gọn chứa những tư trang cần thiết, ông còn mang theo nhiều ký họa và phác thảo được thực hiện trong những năm tháng chiến tranh. Quan trọng hơn, trong tâm hồn ông là cả một kho ký ức dày đặc về chiến tranh, về lao động, về tình đồng chí và về những trải nghiệm sâu sắc của đời sống và đặc biệt là giá trị của hòa bình.

🖌️ Ánh nắng hạnh phúc của lòng người

Dù sáng tác ở bất cứ đề tài nào, một tác phẩm nghệ thuật có giá trị luôn phải chứa đựng và truyền tải những thông điệp, chủ đề mang dấu ấn thời đại. Trong tác phẩm "Nắng quê hương" (1957, sơn dầu), họa sĩ Trần Đình Thọ đã miêu tả một không gian phong cảnh tràn ngập ánh nắng yên bình của làng quê miền Bắc, đó chính là làng dừa Yên Sở (Hoài Đức, Hà Tây)…

Nắng chiều rải một lớp màu vàng óng lên con đường làng nhỏ. Ánh sáng rực rỡ, ấm áp len qua những tán dừa cao, chạm vào từng tàu lá xanh, làm chúng rung lên những đốm sáng lấp lánh. Hàng dừa tỏa bóng mát dài trên mặt đất, mỗi tàu lá xòe ra đều thấm đẫm ánh sáng của nắng, đung đưa trong làn gió nhẹ.

Dưới chân hàng dừa, mặt ao phẳng lặng như một tấm gương xanh. Những mảng bèo tụ lại gọn gàng, phẳng phiu như những tấm chiếu lục đặt nhẹ trên làn nước trong veo. Thấp thoáng phía xa, vài đứa trẻ hồn nhiên nô đùa, bên cạnh con trâu nằm nghỉ thong thả ven đường làng.

Phía chân trời, xa xa là một góc nhỏ của bầu trời xanh thẳm mở rộng, những vầng mây mỏng phớt hồng của buổi chiều đang trôi lặng lẽ. Cả không gian như được phủ đầy nắng vàng trên thảm thực vật xanh mát vừa ấm áp vừa yên lành…

Ngắm tác phẩm, người xem cảm thấy hạnh phúc, thư thái, dễ chịu. Trong lòng dâng lên một cảm giác về sự cân bằng, bình an trong tâm hồn. Đó cũng chính là tâm trạng của họa sĩ khi sáng tác bức tranh này. Ông không đơn thuần tái hiện một phong cảnh đẹp mà đó chính là tình cảm, suy nghĩ, quan điểm của ông về xã hội mà ông đang sống. Để có thể diễn tả trọn vẹn sự xúc động trước đời sống bình yên, ông đã khéo léo kết hợp kỹ thuật tạo hình chuẩn mực hàn lâm và cảm xúc chân thành trong mình để sáng tác… Và điều ấy được thể hiện rõ ràng; từ bố cục tổng thể mạch lạc, khúc chiết; đến ánh sáng ấn tượng tinh tế…

Với sự ổn định của nội tâm; một niềm tin vào sự đổi thay của đất nước dưới ánh sáng của Đảng. Tác phẩm hiện lên với tạo hình những hàng dừa vươn cao, thân dừa vững chãi ngập tràn trong ánh sáng rực rỡ. Trên mặt ao phẳng lặng, những mảng bèo xanh lục hiện lên gọn gàng, ngay ngắn, phản chiếu cảnh vật xung quanh như một ẩn dụ tinh tế về sự ngăn nắp, trật tự, ấm no của đời sống nông thôn mới. Con đường đất uốn cong mềm mại, thong thả dẫn lối giữa hai bờ ao, hướng về chiếc cổng vòm gần gũi, thấp thoáng phía sau là mái nhà nhỏ ấm áp. Những chi tiết giản dị ấy kết nối với nhau thành một tổng thể hài hòa, tạo nên cảm giác cân bằng thanh bình cho toàn bộ không gian.

Đây chính biểu hiện rõ nét nhất của chính tác giả, của người dân với niềm tin vào sự ổn định và bình yên của đời sống mà cách mạng đã mang tới cho họ trong những năm đầu của thời kỳ hòa bình.

Tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc khắc họa một phong cảnh cụ thể của làng quê, mà còn là sự phản chiếu của một tâm thế lịch sử. Bức tranh được Trần Đình Thọ sáng tác năm 1957, khi miền Bắc đã bước vào những năm đầu của thời kỳ hòa bình sau những tháng ngày dài đất nước chìm trong đói nghèo, loạn lạc trước Cách mạng tháng Tám; sau sự gian khổ, khốc liệt của chín năm trường kỳ kháng chiến; khi xã hội đã bình ổn sau cải cách ruộng đất. Trong bối cảnh ấy, cả dân tộc Việt Nam nói chung bắt đầu cảm nhận sâu sắc niềm hạnh phúc của đời sống trong hòa bình. Với riêng họa sĩ Trần Đình Thọ, tác phẩm là sự tổng hòa giữa thực tế xã hội, sự lạc quan và cả tính lãng mạn đến từ niềm tin và tình yêu của ông vào cuộc sống…

TRẦN ĐÌNH THỌ (1919 - 2011)
“Nắng quê hương”, 1957
Sơn dầu trên vải
64 × 80 cm

Millon
Phiên Duplex - 11/04/2026
HỒN VIỆT: NGHỆ THUẬT XƯA VÀ HIỆN ĐẠI
L’ÂME DU VIETNAM: ARTS ANCIENS ET MODERNES

Liên hệ:
[email protected]
+84 (0)7 06 43 06 88

Bài viết của Viet Art View
________________
VIET ART VIEW
📱 0815336668/ Zalo, Viber, Wechat, WhatsApp
🌐 https://vietartview.com.vn
📧 [email protected]

Address

Hanoi
10000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when VIET ART VIEW posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category