15/07/2026
Khi ngồi một mình, bạn sẽ tìm thấy tất cả các câu trả lời của mình..
you are your own soulmate go wild, for a while..
Khi ngồi một mình, bạn sẽ tìm thấy tất cả các câu trả lời của mình..
Thanh Tỉnh Kỷ - An Ni Bảo Bối
Trích:
“Anh nói, hôm nay gặp em, cảm thấy dường như tất cả thời gian và không gian đều không tồn tại. Cái cảm giác gặp được em thì trong lòng vui vẻ đó vẫn mạnh như vậy. Hiềm nỗi thời gian vui vẻ trước đây đều không quay lại được. Cô đáp, chúng ta cũng có lúc hận đến nghiến răng nghiến lợi. Anh nói, anh không nhớ gì cả. Chỉ nhớ lúc chúng ta vui vẻ. Cô nói, lúc ấy chúng ta đều quá trẻ, bướng bỉnh tùy hứng, có vô số điều không cam lòng và thất vọng với cuộc sống, do đó giày vò lẫn nhau. Rất nhiều người nếu đổi thời gian khác quen biết, thì sẽ có kết cục khác. Anh buồn bã mỉm cười.”
“Vì cuộc sống mà bản thân muốn trải qua, dũng cảm buông bỏ một vài thứ. Thế giới này thiếu sự công bằng chính trực, bạn cũng mãi mãi không có được cách thức vẹn cả đôi đường. Nếu muốn tự do, thì phải hy sinh an toàn. Nếu muốn nhàn tản, thì không được người khác đánh giá là thành đạt. Nếu muốn vui vẻ, thì đừng so đo thái độ của người xung quanh. Nếu muốn đi tới, thì phải rời khỏi nơi bạn đang dừng lại.
Luôn là như vậy. Chúng ta lựa chọn gì đó, thì phải buông bỏ gì đó. Có được gì đó, thì phải mất đi gì đó. Phải có tiêu chuẩn thuần túy mà cứng rắn đối với chính mình, mới có thể đi theo trực giác và niềm tin…."
Gặp gỡ với người, cùng uống trà hoặc uống tách cà phê, hơn hẳn ăn cơm ở nhà hàng huyên náo ầm ĩ. Nguyên liệu và cách chế biến khi ăn bên ngoài không thể đảm bảo tươi sốt và an toàn. Đến nhà dùng cơm là chuyện thân thiết. Cơm nước đạm bạc là thứ yếu, gặp mặt uống rượu tâm sự mới là mấu chốt. Nếu có rượu ngon, trà thơm, chuyện vui, đủ để bù đắp tất cả. Ăn gì là thứ yếu. Ăn thế nào mới là quan trọng.
Mấy lần ăn cơm ở chùa, ấn tượng rất sâu sắc. Có người đến thêm canh thêm thức ăn, cơm canh được cúng dường không thể kén chọn mà nên có lòng biết ơn. Tư thế đoan chính, toàn tâm toàn ý, ăn hết thức ăn trong bát. Giữ yên lặng, không nói chuyện. Không có đánh giá, cũng không thừa mứa. Trong tâm cảnh như thế, nó là ngon ngọt no đủ. Trẻ em nên sống một thời gian ngắn trong chùa, như thế chúng sẽ học được làm sao ăn cơm, làm sao đối xử với thức ăn.
Trong cuộc sống của một cô gái trưởng thành, vị trí của nhà bếp dần dần tỏ ra quan trọng. Thời thiếu nữ, chẳng cô bé nào muốn nán lại trong bếp. Tốt nhất ăn cơm cũng vội vã, bỏ bát cơm xuống lập tức chạy đến chân trời góc biển. Từ nhỏ đến lớn, mẹ chưa từng yêu cầu tôi nấu cơm rửa bát. Do không trải qua huấn luyện, thiếu thường thức và kỹ xảo đối với công việc bếp núc. Sau khi trưởng thành, rất ít nấu cơm cho đàn ông ăn. Thông thường đàn ông sẽ nấu cơm cho tôi ăn.
Một lần dì đến thăm, vô ý nhắc tới, lúc nhỏ ở quê chơi đùa, khi ấy tôi bé tí, dì là cô bé con, không có đồ chơi, nghịch ngợm vô tri, bắt chim én trên mái nhà xuống, hai đứa cùng chơi. Bị người khác quở mắng ngay tại chỗ, vì nông dân đều cực kỳ yêu quý chim én. Ở miền nam lưu truyền một cách nói, bé gái chỉ cần từng chơi nghịch chim én, sẽ không thể nấu cơm canh ngon nữa. Do đó dì bảo dì cũng không thạo nấu cơm, ăn cơm đàn ông nấu.
Lấy một miếng thịt vai bò, dùng dầu ô-liu, dấm thơm Ý, tỏi, đường vàng, bách lý hương, nước cốt chanh trộn chung ướp thịt. Để trong tủ lạnh một đêm, trưa hôm sau lấy ra rán. Trong khi nhẫn nại xử lý thức ăn, con người học được cách nhận thức, thực hành, sàng lọc và chọn lấy đối với các loại nguyên tố bên ngoài phong phú, cách sắp xếp thứ tự và tâm thái khách quan đối với tính ngẫu nhiên và tính tất nhiên. Cách cho phép và chờ đợi đối với những điều bất khả tri.
Hiện nay dần dần yêu thích nấu nướng. Thu thập thực phổ. Có lúc loay hoay trong bếp là chuyện vui thú. Mở đài, nghe bài hát xưa cũ, lần lượt bày vẽ. Rượu trái cây ngâm trong bình pha lê lớn, các loại trái cây theo thứ tự mùa vụ bỏ vào rượu chưng cất, từ từ màu sắc ngâm thành đỏ sậm, khoảng bốn tháng sau nếm thử được. Vừa làm, vừa thanh lý. Thỉnh thoảng ngừng đợi, có thể ngắm vườn hoa ngoài cửa sổ, cho mình nhấm nháp một ly.
Sau khi kết thúc công việc hoặc việc nhà, đi vào bếp. Có một chiếc tủ kính chuyên đựng những đồ vật này. Các loại tách trà, ấm trà, dụng cụ pha trà, đồ tre trúc, ly đĩa chén bát. Trên bát vẽ lá thông, bông hoa, đám mây, cổ kính giản dị, nền trắng hoa xanh. Có bạn cũ bạn thân hoặc khách phương xa đến, chọn vài chiếc đem ra, rửa sạch lau khô, bày quả hạt, trái cây, bánh trái, cành hoa lên trên, pha một ấm trà xanh, trò chuyện bên bàn. Đối diện tách nhỏ khay nhỏ, mắt cũng trong sáng vui thích.
Trong các loại trà chọn một loại phù hợp tâm trạng hiện tại, rửa tay, đun nước, pha một ấm trà nhỏ, bưng đến trên bàn ăn, ngồi bên bàn nhìn xuống vườn hoa dưới nhà. Sáng, chiều, hoàng hôn, đêm khuya. Tia sáng và cảnh tượng của vườn hoa nhỏ luôn biến hóa, những tòa lầu cao ngất nơi xa và tầng mây trên bầu trời ấy. Trong quảng trường vườn hoa trẻ em tụ tập trượt ván trượt, tiếng cười và tiếng gọi vang vang, ở nơi kín đáo trầm trầm vọng lại. Trang trí phát sáng trên bánh xe ván trượt nhấp nháy ánh sáng đủ màu. Chân trời có tầng mây mong mỏng. Đôi lúc trong không khí còn vương vất mùi thức ăn thừa.
Thời khắc thế này đối với tôi, kết nối sâu xa với nội tâm, vì thế có được tĩnh mịch.
(Miên Không, An Ni Bảo Bối, Chi dịch)
“Bạn cứ đi con đường của mình … đồng thời phải cho phép người khác đi con đường của họ”.
(Miên Không, An Ni Bảo Bối)
"Em tin rằng ai rời xa ai cũng đều có thể sống tốt, tình yêu không nặng nề như chúng ta vẫn tưởng tượng.
Thứ nặng nề là gì?
Là sự thất vọng trong lòng."
(Chuyện vỡ mộng ngày hè | An Ni Bảo Bối)
Thí dụ bây giờ tôi phải đi
Tôi phải đi
Tay chia ly cùng đời sống này
Có chiều hôm đưa chân tôi
Về biên giới mới
Nghe ra
Quanh tôi đêm dài
Có còn ai trong yên vui về yêu dấu
Ngồi rơi lệ ru người từ đây
Thí dụ bây giờ em phải đi
Em phải đi
Đôi tay em dù ưu ái đời
Em phải đi
Đôi môi ngon dù chưa chín tới
Quanh em trăm năm khép lại
Có còn ai mang hoa tươi
Về yêu dấu
Ngồi quên đời xoá hết cuộc vui
Có còn,
Có còn em
Im lìm trong chiều hôm
Nước mắt rơi cho tình nhân
Nếu còn,
Nếu còn em
Xin được, xin nằm yên
Đất đá hân hoan một miền
Nếu thật
Hôm nào em bỏ đi
Em bỏ đi
Sau lưng em còn con phố dài
Những hàng cây loan tin nhau
Rồi im tiếng nói
Quanh đây hoang vu tiếng cười
Có ngày xưa em theo tôi
Cùng ra quán ngồi
Bên đời xe ngựa ngược xuôi
Nếu thật
Hôm nào tôi phải đi
Tôi phải đi
Ôi bao nhiêu điều chưa nói cùng
Với bình minh
Hay đêm khuya
Và từng trưa nắng
Bao nhiêu sen xanh, sen hồng
Với dòng sông hay anh em
Và những phố phường
Chắc lòng rất khó bình an
Trịnh Công Sơn
"Tiếng hát Khánh Ly có bụi bặm, có khói sương và có cả những giọt nước mắt. Nếu không có Khánh Ly, những bài hát của tôi sẽ cô đơn hơn." - Trịnh Công Sơn
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn gặp nhau lần đầu tại Đà Lạt vào năm 1964, nhưng phải đến năm 1967 mới chính thức đồng hành trên sân khấu ở Sài Gòn. Ở Quán Văn, Khánh Ly thường lặng lẽ cởi đôi giày trước khi cất tiếng hát, để đôi chân chạm vào mặt đất mộc mạc, bên tiếng guitar trầm buồn của Trịnh Công Sơn. Hình ảnh người phụ nữ hát chân trần giữa những đêm đầy gió ấy dần trở thành một biểu tượng, các khán giả gọi bà bằng cái tên "Nữ hoàng chân đất." Thuở còn hai mươi, họ đã đi cùng nhau qua những ngày đời còn nhiều thiếu thốn. Giữa những bữa cơm đạm bạc, những quán cà phê nhỏ và những đêm hát không sân khấu, âm nhạc là mái nhà chung, còn tình tri kỷ là ngọn lửa âm ỉ sưởi ấm hai tâm hồn.
Trên gối đá
Ở đây, tôi muốn kể câu chuyện về một người phụ nữ. Nói thế chứ, tôi gần như không biết gì về cô ấy cả. Tôi thậm chí không nhớ ra tên thật của cô, hay khuôn mặt cô. Mà cả cô chắc hẳn cũng không nhớ tên hay mặt tôi nữa.
Khi gặp cô, tôi là sinh viên năm thứ hai đại học, chưa đến hai mươi tuổi, và tôi đoán cô có lẽ giữa lứa tuổi hai mươi. Cả hai chúng tôi đều làm việc bán thời gian ở cùng một chỗ, cùng một thời kỳ. Thế rồi hoàn toàn tình cờ mà rốt cuộc chúng tôi đã qua đêm với nhau. Và rồi không bao giờ gặp lại nhau nữa.
Thuở mười chín, tôi hầu như hoàn toàn chẳng biết gì về hoạt động bên trong trái tim mình, chứ đừng nói gì đến trái tim của người khác. Dù vậy, tự mình thì nghĩ là đã biết khá rành nỗi vui sướng và nỗi buồn rầu là như thế nào. Tuy có điều tôi vẫn chưa thể nắm bắt được nhiều hiện tượng nằm trong khoảng giữa vui sướng và buồn rầu, cách thức chúng liên quan với nhau như thế nào. Điều đó thường khiến tôi cảm thấy bất an và bất lực.
Mặc dù vậy, tôi vẫn muốn kể về cô ấy.
Những gì tôi biết về cô chỉ là cô đã viết những bài thơ đoản ca, và đã xuất bản một tập thơ. Nói là đã xuất bản, chứ thực ra cuốn sách đó là một tập sách mỏng, cao lắm thì cũng chỉ đạt đến trình độ của một cuốn sách tự xuất bản, gồm những trang giấy in được kết lại bằng dây nhợ thả diều, kèm thêm một cái bìa đơn giản. Thế nhưng một số bài thơ trong tập thơ của cô đã lắng đọng lại trong lòng tôi lì lợm đến mức kỳ dị. Hầu hết các bài thơ của cô đều nói về tình yêu nam nữ, và cái chết. Như thể để trình bày rằng tình yêu và cái chết là những khái niệm gắn kết không thể tách rời hay chia cắt được.
Anh và em
chúng ta đã cách xa nhau
thật đấy nhỉ?
Đổi tàu ở Sao Mộc,
em đã làm đúng đấy chăng?
Em áp tai
vào gối đá, lắng nghe
Tiếng máu chảy
vắng bặt, im lìm.
“Này anh, có thể em sẽ hét lên tên một người đàn ông khác khi em cực sướng đấy. Anh có chấp nhận điều đó không?” cô hỏi tôi. Chúng tôi đang khỏa thân dưới tấm chăn futon.
“Có sao đâu,” tôi nói. Chẳng phải là tin chắc như thế, nhưng tôi nghĩ chừng đó có lẽ sẽ không làm tôi bận tâm. Tôi nghĩ, chỉ là một cái tên thôi mà, sẽ chẳng có gì thay đổi chỉ vì một cái tên.
“Em có thể hét khá lớn đấy nhé.”
“Ồ, thế thì có thể là vấn đề đấy,” tôi vội vàng nói. Căn phòng trọ bằng gỗ cũ kỹ mà tôi đang ở có những bức tường thô sơ mỏng manh như mấy chiếc bánh quế mà tôi từng ăn khi còn bé. Lại đã khá muộn vào ban đêm, nếu cô thực sự hét tướng lên thì hai bên hàng xóm sẽ nghe được tất cả.
“Vậy thì lúc đó em sẽ cắn chặt một chiếc khăn nhé,” cô nói.
Tôi chọn chiếc khăn sạch nhất, dày nhất trong phòng tắm, mang lại đặt cạnh gối.
“Khăn này được không?”
Cô thử cắn chặt chiếc khăn vài lần, giống như một con ngựa cắn thử miếng mồi mới. Rồi gật đầu, ra hiệu chiếc khăn đã qua được đợt kiểm tra.
Hoàn toàn là một cuộc gặp gỡ tình cờ đấy thôi. Tôi thực sự đã chẳng ao ước chúng tôi sẽ cặp với nhau, và tôi nghĩ cô cũng vậy. Chúng tôi đã làm việc cùng chỗ trong nửa tháng rồi, nhưng vì công việc khác và xa nhau nên hầu như không có cơ hội trò chuyện gì cho ra hồn. Mùa đông năm đó, tôi rửa chén bát và giúp việc vặt trong bếp của một nhà hàng Ý bình dân gần ga Yotsuya, còn cô hầu bàn trong phòng ăn. Tất cả những người làm bán thời gian ở nhà hàng ấy đều là sinh viên đại học, ngoại trừ cô. Có lẽ đó là lý do cô có thái độ hơi xa cách.
Cô đã quyết định nghỉ việc vào giữa tháng 12, và một ngày nọ sau giờ làm việc, một số nhân viên cùng nhau đến ăn uống ở một quán nhậu gần đấy. Tôi cũng được rủ tham gia. Không hẳn là một bữa tiệc chia tay theo lệ thường, chỉ là trong khoảng một giờ, chúng tôi cùng uống bia sống, ăn một ít thức nhắm, và tán chuyện, thế thôi. Nhân đó tôi được biết là trước khi làm hầu bàn ở đấy thì cô đã làm việc tại một công ty bất động sản nhỏ, rồi tại một hiệu sách. Cô cho biết rằng ở các chỗ làm cũ, cô đã chẳng hòa hợp được với những người quản lý hoặc người chủ. Còn ở nhà hàng này thì cô không va chạm gì với bất cứ ai, nhưng mức lương quá thấp không đủ sống khiến cô khó mà làm lâu được, vì vậy cô phải tìm một công việc khác, tuy cô không muốn.
Thế cô muốn làm công việc gì nào? có người hỏi.
“Công việc gì cũng được,” cô nói, xoa xoa bên sống mũi. (Bên cạnh mũi cô có hai nốt ruồi nhỏ, xếp thành hàng như một chòm sao.) “Bởi công việc nào tôi tìm được thì cũng chẳng quan trọng bao nhiêu.”
Thời đó tôi trọ ở Asagaya, còn chỗ của cô thì ở Koganei. Vì vậy, cả hai cùng về bằng tàu điện tốc hành trên tuyến Chuo từ ga Yotsuya. Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên tàu. Lúc đó đã quá mười một giờ tối, một đêm rét thấu xương với gió mùa đông lạnh buốt. Tôi đã chẳng kịp để ý là đến mùa phải mang găng tay và khăn quàng cổ rồi. Khi tàu đến gần ga Asagaya, tôi đứng dậy chuẩn bị xuống tàu, thì cô nhìn lên tôi mà nói, giọng thì thầm, “Anh có thể cho em trú lại nhà anh đêm nay được không?”
“Được thôi, nhưng sao thế?”
“Quá xa để quay lại Koganei mà.”
“Tôi phải nói trước, chỉ là một căn phòng hẹp, và thực sự bừa bộn lắm đấy,” tôi nói.
“Điều đó không làm phiền em chút nào cả,” cô nói, và nắm lấy cánh tay áo khoác của tôi.
Thế là cô đến chỗ trọ chật chội, tồi tàn của tôi, và chúng tôi cùng nhau uống vài lon bia. Chúng tôi thong thả uống bia, rồi như thể chỉ là bước tiếp theo tự nhiên, cô cởi quần áo ngay trước mắt tôi. Và cứ thế, cô trần truồng chui vào chiếc chăn futon của tôi. Theo sau, tôi cởi quần áo nằm xuống với cô. Tôi với tay tắt đèn, nhưng ánh lửa từ lò sưởi bằng khí đốt vẫn giữ cho căn phòng khá sáng. Trên nệm futon, chúng tôi sờ soạng sưởi ấm nhau. Một lúc lâu, không ai nói lời nào. Gấp rút cởi bỏ áo quần nằm với nhau xong, thật khó mà biết phải nói gì tiếp. Nhưng khi cơ thể dần ấm lên, chúng tôi thực sự cảm thấy sự ngượng ngùng dịu đi qua làn da. Có cảm giác thân mật kỳ lạ.
Đúng vào lúc ấy cô lên tiếng hỏi, “Có thể em sẽ hét lên tên một người đàn ông khác khi em cực sướng đấy. Anh có chấp nhận được không?”
“Thế cô có yêu anh ta không?” Tôi hỏi, sau khi trao cô chiếc khăn.
“Yêu chứ. Nhiều lắm,” cô đáp. “Em yêu anh ấy thật, thật nhiều. Em luôn luôn nghĩ đến anh ấy, từng phút từng giây. Nhưng anh ấy thì không yêu em nhiều đến thế. Vả lại, anh ấy có bạn gái khác rồi.”
“Thế mà cô vẫn chơi với anh ta à?”
“Ừm. Anh ấy gọi cho em bất cứ khi nào anh ấy muốn thân thể em,” cô nói. “Giống như điện thoại gọi đồ ăn mang đến vậy.”
Tôi không biết phải trả lời thế nào, nên im lặng. Cô dùng đầu ngón tay vẽ hình gì đấy trên lưng tôi. Hoặc cũng có thể cô đang viết nguệch ngoạc chữ gì đấy.
“Anh ấy bảo khuôn mặt em xấu xí nhưng thân thể em là tuyệt vời nhất.”
Tôi không nghĩ khuôn mặt cô xấu xí, mặc dù gọi là xinh đẹp thì hẳn là quá đáng. Bây giờ nghĩ lại, tôi không thể nhớ chính xác được khuôn mặt cô như thế nào, hay mô tả chi tiết về khuôn mặt đó.
“Nhưng nếu anh ta gọi, thì cô đi à?”
“Em yêu anh ấy, nên đâu còn làm sao khác được?” cô nói, như thể không còn gì có thể tự nhiên hơn. “Cho dù anh ấy có nói gì em đi nữa, có những lúc em thiết tha cần một người đàn ông làm tình với mình.”
Tôi nghĩ về điều cô nói một hồi. Nhưng thuở ấy, tôi không thể tưởng tượng ra được cụ thể là trạng thái cảm xúc như thế nào, khi người phụ nữ “thiết tha cần một người đàn ông làm tình với mình.” (Mà ngay cả bây giờ, ngẫm lại thì tôi vẫn chưa hiểu rõ được nữa là.)
“Yêu ai đó thì giống như mắc bệnh tâm thần không được bảo hiểm y tế,” cô nói, giọng đều đều, như thể đang đọc lại dòng chữ viết trên tường.
“Thế cơ đấy!” tôi nói, có phần thán phục.
“Thế nên không sao cả nếu ngay lúc ấy anh cứ xem em như là một người phụ nữ khác,” cô nói. “Anh có người yêu nào đấy chứ?”
“Có chứ.”
“Thế thì em không phiền gì nếu anh hét tên người đó khi anh cực sướng. Em sẽ không bận tâm đâu.”
Thời đó quả là có một cô gái tôi thích, nhưng hoàn cảnh đã ngăn cản chúng tôi tiến sâu hơn. Và khi khoảnh khắc đó đến, tôi đã không gọi tên cô ta. Ý nghĩ đó đã thoáng qua trong đầu tôi, nhưng ngay giữa lúc quan hệ tính dục với cô này mà làm thế thì có vẻ ngớ ngẩn sao ấy, nên tôi đã xuất tinh bên trong cô mà không thốt lên lời nào. Cô lại sắp hét lên tên của người đàn ông như cô đã cho biết, nên tôi phải vội vàng nhét khăn vào giữa hai hàm răng của cô. Cô có hàm răng thực sự vững chắc, trông rất khỏe mạnh. Đến mức nha sĩ nào thấy hẳn cũng thực sự trầm trồ. Tôi không nhớ lúc đó cô đã hét lên cái tên nào. Chỉ nhớ có lẽ là một cái tên thông thường, chẳng có gì đặc biệt, và tôi đã rất ngạc nhiên vì một cái tên nhạt nhẽo như vậy lại được cô xem là quý báu và thực sự quan trọng. Hóa ra một cái tên đơn giản đôi khi có thể làm rung động trái tim người ta đấy.
Sáng hôm sau thì tôi có một lớp học sớm mà tôi phải nộp một báo cáo quan trọng thay cho bài kiểm tra giữa kỳ, nhưng tất nhiên là tôi đã bỏ qua. (Điều này dẫn đến một số vấn đề nghiêm trọng sau này, nhưng đó là một câu chuyện khác.) Cuối cùng thì chúng tôi cũng đã thức dậy lúc trưa trật, đun nước pha cà phê uống liền và ăn vài miếng bánh mì nướng. Còn một ít trứng trong tủ lạnh, nên tôi luộc ăn chung. Trời trong vắt không mây, nắng sáng huy hoàng, và tôi cảm thấy lười biếng.
Lúc cô nhai bánh mì nướng bơ, cô hỏi tôi chuyên ngành gì ở trường đại học. Tôi nói rằng tôi học khoa Văn.
Thế anh muốn thành tiểu thuyết gia đấy à? cô hỏi.
Tôi không thực sự có ý định đó, tôi trả lời thành thật như thế. Tôi không có bất cứ kế hoạch nào vào thời điểm đó, để trở thành tiểu thuyết gia. Thậm chí chưa bao giờ nghĩ đến điều đó (mặc dù có rất nhiều người cùng lớp tôi đã tuyên bố có ý định trở thành tiểu thuyết gia). Nghe tôi đáp thế, cô có vẻ mất hứng đối với tôi. Tuy cũng chẳng phải là cô đã có hứng thú gì nhiều ngay từ đầu. Dù sao đi nữa, tôi có chút cảm giác bị thương tổn.
Trong ánh sáng ban ngày, tôi có thể nhìn thấy dấu răng của cô trên chiếc khăn, khiến tôi thấy hơi kỳ dị. Cô hẳn đã cắn vào đấy khá mạnh. Dưới ánh sáng ban ngày, cô trông có vẻ lạc lõng. Thật khó tin rằng cô gái này – nhỏ nhắn, xương xẩu, với nước da không được đẹp lắm – lại chính là cô gái đã hét lên, mê đắm trong vòng tay tôi đêm hôm trước, dưới ánh trăng mùa đông.
“Em làm thơ tanka đấy anh,” cô đột nhiên nói.
“Tanka à?”
“Anh biết tanka, chứ nhỉ?”
“Tất nhiên rồi,” tôi nói. Ngay cả một người ngây thơ như tôi đi nữa, chừng đó thì cũng biết được chứ. “Nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp một người thực sự làm thơ tanka.”
Cô cười vui sướng. “Nhưng trên thế giới này vẫn có những người như thế, anh biết đấy.”
“Cô tham gia câu lạc bộ thơ hay gì đó à?”
“Không, không phải vậy,” cô nói, và nhún vai nhẹ. “Thơ tanka là thể loại tự mình sáng tác kia. Đúng không nào? Không giống như chơi bóng rổ thành đội.”
“Loại thơ tanka gì nào?”
“Anh muốn nghe không?”
Tôi gật đầu.
“Thật chứ? Anh không chỉ nói suông thế thôi sao?”
“Thật mà,” tôi nói.
Và đó là sự thật. Bởi tôi tò mò. Tôi nghĩ cô gái này, người mới chỉ vài giờ trước đây đã rên rỉ trong vòng tay tôi và hét lên tên một người đàn ông khác, thì viết ra loại thơ nào nhỉ?
Cô do dự. “Em không nghĩ là có thể đọc thuộc lòng bất cứ bài thơ nào ở đây. Thật ngượng ngùng quá. Và mới sáng ra nữa. Nhưng em đã xuất bản một loại tuyển tập, vì vậy nếu anh thực sự muốn đọc, em sẽ gửi cho anh. Anh cho em biết tên họ và địa chỉ được không?”
Tôi ghi địa chỉ của mình vào một mẩu giấy ghi nhớ, đưa cho cô. Cô liếc nhìn, gấp làm tư, rồi nhét vào túi áo khoác. Chiếc áo khoác màu lục nhạt đã qua khỏi thời hoàng kim. Cổ áo tròn đính một chiếc trâm cài bằng bạc hình hoa linh lan. Tôi nhớ chiếc trâm lấp lánh dưới ánh nắng chiếu qua kính cửa sổ hướng về phía nam. Tôi hầu như chẳng biết gì về hoa, nhưng không hiểu sao tôi luôn luôn thích hoa linh lan.
“Cảm ơn anh đã cho em ở lại. Em thực sự không muốn đi tàu điện một mình về Koganei,” cô nói khi rời khỏi phòng tôi. “Con gái đôi khi lo ngại như thế.”
Lúc ấy cả hai chúng tôi đều nhận thức rõ điều đó. Rằng chúng tôi có lẽ sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Đêm ấy, cô chỉ đơn giản là không muốn đi tàu điện một mình về Koganei, chỉ có vậy thôi.
Một tuần sau, tập thơ của cô đã được gửi đến qua bưu điện. Thành thật mà nói, tôi thực sự không nghĩ là cô sẽ giữ lời mà gửi cho tôi. Tôi đoán là cô quên hẳn tôi khi cô trở về nhà ở Koganei (hoặc có lẽ cô đã gắng quên tôi càng sớm càng tốt), tôi không hề nghĩ rằng cô sẽ mất công bỏ một bản cuốn thơ ấy vào phong bì, viết họ tên và địa chỉ của tôi, dán tem rồi cho vào hộp thư, thậm chí có thể phải đến tận bưu điện, theo lệ thường. Vì vậy, một buổi sáng, khi tôi dòm thấy gói quà đó qua khe hộp thư của mình trong căn hộ, tôi đã rất bất ngờ.
Nhan đề của tập thơ là Trên gối đá. Tác giả được ghi là Chiho. Không rõ là tên thật hay bút danh của cô. Ở nhà hàng, tôi hẳn đã nghe tên cô nhiều lần rồi, nhưng tôi không nhớ ra được. Tuy nhiên, không ai gọi cô là Chiho cả, theo như tôi biết. Tập thơ nằm trong một phong bì loại dùng cho công việc, màu nâu trơn, không ghi tên hoặc địa chỉ người gửi, mà cũng không có thiệp hay thư kèm theo. Chỉ có một tập thơ mỏng, được đóng lại bằng dây nhợ thả diều màu trắng, nằm im lặng bên trong. Không phải là một bản in thạch bản rẻ tiền, mà được in đẹp trên giấy dày, phẩm chất cao. Tôi đoán là tác giả đã sắp xếp các trang theo thứ tự, dán bìa các-tông và cẩn thận đóng từng bản bằng tay dùng kim và dây nhợ để tiết kiệm chi phí đóng sách. Tôi đã cố tưởng tượng cô làm công việc đó, nhưng không sao hình dung ra được. Con số 28 được đóng dấu trên trang đầu tiên. Chắc hẳn là cuốn thứ hai mươi tám trong một phiên bản giới hạn. Tổng cộng có bao nhiêu cuốn nhỉ? Không thấy giá bán ghi ở đâu cả. Có lẽ đã không hề có giá bán.
Tôi không mở xem tập thơ ngay. Tôi chỉ để trên bàn làm việc, thỉnh thoảng liếc nhìn bìa sách. Chẳng phải là tôi không hứng thú gì, mà chỉ vì tôi cảm thấy việc đọc một tập thơ do ai đó làm ra – đặc biệt là của một người tuần trước đây đã khỏa thân trong vòng tay tôi – thì cần phải có một chút chuẩn bị về mặt tinh thần. Một cử chỉ tôn trọng đấy, tôi nghĩ thế.
Cuối cùng, vào buổi tối cuối tuần đó, tôi đã mở cuốn sách ra xem. Đứng tựa lưng vào bức tường cạnh cửa sổ, tôi đọc cuốn sách trong ánh hoàng hôn mùa đông. Có bốn mươi hai bài thơ trong tập ấy. Mỗi trang một bài tanka. Chẳng phải là một con số đặc biệt lớn. Không có lời tựa, không có lời bạt, thậm chí không ghi ngày xuất bản nữa. Chỉ in “tanka” bằng chữ màu đen thông thường trên các trang giấy trắng lề rộng.
Tôi chắc chắn đã không mong đợi một tác phẩm văn học đồ sộ hay bất cứ thứ gì như thế. Như tôi đã nói, tôi chỉ tò mò thôi. Một người phụ nữ hét lớn tên một anh chàng nào đó vào tai tôi khi cô cắn chặt chiếc khăn, thì viết ra loại thơ nào nhỉ? Điều tôi nhận ra khi đọc trọn tập thơ, là một số bài trong đó thực sự đã khiến tôi xúc động.
Tanka về cơ bản đã là một bí ẩn đối với tôi (và ngay cả bây giờ vẫn thế.) Vì vậy, tôi chắc chắn không dám mạo muội đưa ra ý kiến chủ quan gì về việc bài tanka nào đáng được coi là tuyệt vời, hay bài nào không đáng. Nhưng ngoài bất cứ đánh giá nào về giá trị văn học, thì một số tanka mà cô làm – chính xác là tám bài – đã khiến tôi xúc động sâu sắc. Ví dụ như bài này:
Khoảnh khắc hiện tại
nếu đó là khoảnh khắc hiện tại,
chỉ có thể được xem
là hiện tại không thể nào tránh được.
Trong gió núi
một cái đầu bị chặt đứt
không một lời.
Nước tháng sáu đọng lại
nơi gốc bụi cẩm tú cầu.
Thật kỳ lạ, khi tôi mở những trang thơ ấy, dõi mắt theo những chữ in cỡ lớn màu đen và đọc to lên, thì hình ảnh thân thể cô gái mà tôi đã thấy đêm đó lại hiển hiện trong trí tôi, thật chính xác như tôi đã nhìn thấy ngay trước mắt.
Không phải là hình ảnh thiếu ấn tượng mà tôi thấy trong ánh nắng buổi sáng hôm sau, mà là thân thể cô lúc tôi đang ôm trong vòng tay, được bao bọc bởi làn da mịn màng, trong đêm trăng sáng đó. Bộ ngực tròn đầy, núm vú nhỏ cứng, âm mao thưa mềm, âm hộ trơn ướt. Khi đạt đến cực khoái, cô đã nhắm mắt lại, cắn chặt chiếc khăn và gọi tên một người đàn ông khác vào tai tôi, liên tục. Tên của một người đàn ông ở đâu đó, một cái tên tầm thường mà tôi thậm chí không thể nhớ ra.
Khi em nghĩ
chúng ta sẽ không còn gặp lại nhau lần nữa,
Em cũng nghĩ rằng
không có lý do gì mà chúng ta không thể.
Có còn gặp lại nhau
hay sẽ chỉ kết thúc như thế này,
bị cuốn theo ánh sáng
bị bóng tối dẫm đạp.
Tất nhiên, tôi không biết liệu cô có còn viết tanka hay không. Như tôi đã nói, tôi thậm chí không biết tên thật của cô, và hầu như không nhớ mặt cô nữa. Tôi chỉ nhớ được cái tên “Chiho” trên bìa tập thơ, và làn da mềm mại, dâng hiến của cô dưới ánh trăng mùa đông nhợt nhạt chiếu qua cửa sổ, và chòm sao hai nốt ruồi nhỏ bên cạnh mũi cô.
Có lẽ cô thậm chí không còn tồn tại nữa cũng nên. Đôi lúc tôi nghĩ thế. Tôi không khỏi cảm thấy rằng có lẽ một lúc nào đó cô đã tự tử. Tôi nói thế là vì hầu hết các bài tanka của cô – hoặc ít nhất là hầu hết các bài trong tập thơ đó – đều mô tả hình ảnh cái chết. Và vì lý do nào đó, các bài ấy liên quan đến việc chặt đầu bằng lưỡi kiếm. Có thể đối với cô, đó là phong cách cô muốn chết.
Lạc vào cơn mưa
xối xả không ngừng
suốt cả buổi chiều,
chiếc rìu vô danh
chặt đầu hoàng hôn.
Nhưng trong một góc trái tim, tôi vẫn mong ước cô còn sống ở đâu đó trên thế giới này. Đôi khi, tôi đột nhiên bắt gặp mình hy vọng rằng cô sống sót, và vẫn đang sáng tác thơ. Tại sao nhỉ? Tại sao tôi lại mất công nghĩ đến điều như thế chứ? Đâu có điều gì kết nối cuộc đời của tôi và của cô. Kể cả khi, giả sử chúng tôi đi ngang qua nhau trên phố, hoặc tình cờ ngồi ở bàn cạnh nhau trong một nhà hàng, tôi thực sự vẫn nghi ngờ rằng không hẳn chúng tôi còn có thể nhận ra nhau. Giống như hai đường thẳng tình cờ giao nhau, chúng tôi chỉ gặp nhau trong giây lát tại một điểm nhất định, rồi mỗi người đi mỗi ngả.
Nhiều năm đã trôi qua kể từ đấy. Thật kỳ lạ (mà có lẽ cũng không kỳ lạ gì lắm), con người già đi như chỉ trong chớp mắt. Mỗi khoảnh khắc trôi qua, thân thể chúng ta lại nhích thêm một bước trên hành trình một chiều đến suy yếu và sụp đổ, mà không làm sao quay ngược thời gian. Tôi nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, chỉ để nhận thực rằng trong khoảng thời gian đó, rất nhiều thứ đã biến mất đi rồi. Bị những cơn gió nửa đêm mãnh liệt thổi qua, những thứ ấy – một số có tên, số khác thì không – đã biến mất không còn dấu vết. Ngay cả ký ức cũng khó có thể tin cậy được. Có ai có thể đoan chắc điều gì thực sự đã xảy ra với chúng ta vào thời điểm quá khứ đó không nào?
Nhưng dù vậy, nếu chúng ta được ban phước thì một vài từ ngữ vẫn có thể còn lưu lại với chúng ta. Chúng trèo lên đỉnh đồi trong đêm tối, chui vào những cái hố nhỏ đào vừa vặn với hình dáng cơ thể chúng, đứng lặng yên chịu đựng những cơn gió bão của thời gian thổi qua. Cho đến cuối cùng khi bình minh ló dạng, giông gió lắng xuống, những từ ngữ còn sống sót lại lặng lẽ nhô lên mặt đất. Phần lớn tiếng nói của chúng đều nhỏ nhoi, chúng nhút nhát và chỉ có những cách diễn đạt mơ hồ. Mặc dù vậy, chúng vẫn sẵn sàng làm chứng. Những chứng nhân trung thực và công bằng.
Nhưng để tạo ra được những từ ngữ bền bỉ, nhẫn nại mà đau khổ đó, chứ không phải để tìm thấy chúng mà rồi bỏ quên chúng lại phía sau, thì chúng ta phải hy sinh vô điều kiện chính thân thể của mình, chính trái tim của mình. Chúng ta phải nằm xuống gối đầu lên một chiếc gối đá lạnh lẽo được vầng trăng mùa đông chiếu sáng.
Ngoài tôi ra, có lẽ không có một người nào khác trên thế giới này nhớ đến những bài thơ của cô gái đó, chứ đừng nói người có thể đọc thuộc lòng chúng. Ngoại trừ cuốn đánh số 28, tất cả phiên bản tuyển tập thơ mỏng tự xuất bản đó, được buộc lại bằng dây nhợ thả diều, giờ đây đã bị lãng quên, bị phân tán, bị cuốn hút vào đâu đó trong bóng tối u ám giữa Sao Mộc và Sao Thổ mà biến mất mãi mãi rồi. Có lẽ bản thân cô (giả sử cô vẫn còn sống) cũng chẳng còn nhớ một chút gì về những bài thơ tanka cô đã viết khi còn trẻ. Có lẽ lý do duy nhất khiến tôi còn nhớ một số bài thơ của cô ngay cả bây giờ đây, là vì chúng kết nối với ký ức về dấu răng của cô cắn chặt vào chiếc khăn đêm đó. Có lẽ chỉ có vậy thôi. Tôi cũng chẳng biết có được bao nhiêu ý nghĩa hay giá trị trong chuyện tôi vẫn nhớ mãi tất cả những điều đó, hay thỉnh thoảng vẫn còn lấy tập thơ đã phai màu ấy từ ngăn kéo ra mà đọc lại. Thành thật mà nói, tôi thực sự không biết.
Thế nhưng, dù sao đi nữa, những thứ đó vẫn còn lưu lại. Trong khi những từ ngữ, những ký ức khác đã thành bụi trần mà biến mất đi rồi.
Dù ai cắt đứt đi
hay bị ai cắt đứt,
nếu kê cổ lên gối đá,
thì đấy!
thành bụi trần mất thôi.
Phạm Vũ Thịnh dịch
Truyện ngắn: “Chance Traveler” –
Người lữ hành tình cờ
“Tôi” ở đây, các bạn nên biết, có nghĩa là tôi, Haruki Murakami, tác giả câu chuyện này. Đây chủ yếu là một câu chuyện ngôi thứ ba, nhưng ở đây lúc mở đầu người kể chuyện có xuất hiện. Cũng giống như trong một vở kịch cổ điển, người dẫn đứng trước rèm, nói lời mở đầu rồi lui. Tôi cảm ơn sự kiên nhẫn của các bạn, và xin hứa sẽ không nấn ná lâu.
Lý do tôi xuất hiện ở đây là tôi nghĩ tốt nhất nên trực tiếp kể lại một vài cái gọi là sự kiện kỳ lạ đã xảy đến với tôi. Thật ra, những sự kiện kiểu này diễn ra khá thường xuyên. Một số thì đáng kể, và ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi không cách này thì cách khác. Còn lại là những sự kiện không đáng kể không có ảnh hưởng gì. Ít nhất là tôi nghĩ vậy.
Lần nào nhắc đến những sự kiện này, ví dụ trong một buổi trò chuyện nhóm, tôi cũng không được để ý. Hầu hết mọi người chỉ bình luận bâng quơ, và chẳng bao giờ đi đến đâu cả. Chẳng bao giờ gợi chuyện, chẳng bao giờ khiến ai kể ra chuyện gì tương tự xảy đến với họ. Chủ đề mà tôi nhắc đến giống như vô khối nước chảy nhầm kênh và bị hút vào một đụn cát vô danh. Không ai nói gì trong một lúc, rồi luôn có người đổi chủ đề.
Ban đầu tôi nghĩ mình kể chuyện sai cách, rồi một lần tôi thử ngồi xuống viết thành một tiểu luận. Tôi cho là mình làm thế thì mọi người sẽ nhìn nhận nó nghiêm túc hơn. Nhưng hình như chẳng ai tin những gì tôi viết. “Tất cả là anh bịa, đúng không?” tôi chẳng biết bao nhiêu lần mình nghe câu ấy. Bởi tôi là tiểu thuyết gia nên người ta cho là bất cứ thứ gì tôi nói hay viết đều dính dáng đến bịa đặt. Đồng ý, văn chương của tôi chứa quá nhiều hư cấu, nhưng khi không viết văn tôi chẳng mất công nghĩ ra mấy chuyện vô nghĩa.
Do vậy, như một lời nói đầu cho câu chuyện, tôi muốn kể lại vắn tắt một số trải nghiệm kỳ lạ của mình. Tôi sẽ bám vào những thứ tầm thường, không đáng kể. Nếu bắt đầu đến những trải nghiệm làm thay đổi cuộc đời, tôi sẽ dùng gần hết không gian mà tôi được phép.
*
Từ năm 1993 đến năm 1995 tôi sống ở Cambridge, Massachusetts. Tôi thuộc dạng nhà văn thường trú ở một trường đại học, viết cuốn tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót. Ở quảng trường Harvard có một câu lạc bộ nhạc jazz tên là Regattabar có rất nhiều buổi biểu diễn nhạc sống. Đó là một nơi thoải mái, thư thái, ấm cúng. Các nhạc sĩ nhạc jazz nổi tiếng chơi ở đó, và chi phí ngoài cũng hợp lý.
Một tối nghệ sĩ piano Tommy Flanagan xuất hiện cùng bộ ba của ông. Vợ tôi có việc nên tôi đi một mình. Tommy Flanagan là một trong những nghệ sĩ piano nhạc jazz yêu thích của tôi. Ông thường xuất hiện cùng một người đệm; màn biểu diễn của ông lúc nào cũng ấm áp và sâu sắc, và ổn định một cách kỳ diệu. Ông solo thì tuyệt vời. Kín chỗ đặt trước, tôi ngồi một bàn gần sân khấu và thưởng thức ly Merlot California. Nhưng nói thật, màn biểu diễn của ông có chút thất vọng. Có lẽ ông không khỏe. Hoặc không thì còn quá sớm để ông bắt đầu lấy nhịp. Nó không tệ, chỉ là thiếu đi cái yếu tố đưa chúng ta bay đến thế giới khác. Nó thiếu đi cái nét kỳ diệu đặc biệt ấy, tôi nghĩ ta có thể nói vậy. Tommy Flanagan tốt hơn thế, tôi nghĩ trong lúc nghe—chỉ cần đợi đến khi ông bắt được nhịp.
Nhưng thời gian chẳng cải thiện gì. Khi set nhạc của họ sắp kết thúc, tôi bắt đầu gần như phát hoảng, hy vọng nó sẽ không kết thúc như vậy. Tôi muốn có thứ để nhớ về buổi biểu diễn của ông. Nếu mọi thứ kết thúc như thế, tất cả những gì tôi mà mang về sẽ là những ký ức nhạt nhòa. Hoặc có lẽ chẳng có ký ức nào cả. Và có thể tôi sẽ không bao giờ có cơ hội trực tiếp xem Tommy Flanagan chơi lần nữa. (Thực tế là vậy.) Đột nhiên tôi nghĩ: nếu được ông cho phép đề nghị thay đổi hai bài ngay lúc này—mình sẽ chọn bài nào? Tôi ngẫm một lúc trước khi chọn “Barbados” và “Star-Crossed Lovers.”
Bài đầu là của Charlie Parker, bài thứ hai là một giai điệu của Duke Ellington. Tôi nói thêm như vậy cho những ai không thực sự yêu jazz, nhưng cả hai đều không quá phổ biến, hay được biểu diễn nhiều. Đôi khi các bạn có thể nghe phải “Barbados,” dù nó là một trong những bài ít ấn tượng mà Charlie Parker viết, và tôi cá hầu hết mọi người đều chưa nghe “Star-Crossed Lovers” một lần nào. Ý tôi là, đây không phải những lựa chọn điển hình.
Dĩ nhiên, tôi có lý do để chọn hai tác phẩm ít hứa hẹn cho đề nghị giả tưởng của mình—cụ thể là Tommy Flanagan từng thực hiện những bản thu đáng nhớ của cả hai. “Barbados” xuất hiện trong album Dial J. J. 5 năm 1957 khi ông là nghệ sĩ piano tại J. J. Johnson Quintet, trong khi ông thu “Star-Crossed Lovers” trong album Encounte! năm 1968 với Pepper Adams và Zoot Sims. Trong sự nghiệp kéo dài nhiều năm của mình Tommy Flanagan đã chơi và thu vô số bài với tư cách sideman trong nhiều nhóm, nhưng những bản solo sắc sảo, thông minh, dù ngắn, trong hai bài cụ thể ấy là cái mà tôi luôn yêu. Đấy là lý do tại sao tôi nghĩ giá mà ông chơi hai bài ấy ngay lúc này thì thật hoàn hảo. Tôi dõi sát theo ông, hình dung cảnh ông đến bàn tôi và hỏi, “Này, tôi đã để ý anh. Anh có đề nghị nào không? Sao không cho tôi tên hai bản nhạc anh muốn tôi chơi nhỉ?” Dù dĩ nhiên luôn biết, cơ hội điều đó xảy ra là bằng không.
Và rồi, không một lời, không hẳn nhìn về phía tôi, Tommy Flanagan bắt đầu hai bài cuối trong set—chính là hai bài tôi nghĩ đến. Ông bắt đầu bằng bản ballad “Star-Crossed Lovers,” tiếp đến một bản tempo của “Barbados.” Tôi ngồi đó, ly rượu trong tay, nghẹn lời. Fan nhạc jazz sẽ hiểu cơ hội ông chọn hai bài này trong số hàng triệu bản nhạc jazz ngoài kia là vô cùng nhỏ. Còn nữa—và đây mới là vấn đề chính—màn trình diễn cả hai bản nhạc này của ông thật đáng kinh ngạc.
*
Chuyện thứ hai diễn ra cũng khoảng thời gian ấy, và cũng liên quan đến jazz. Một buổi chiều tôi đang săm soi ở một cửa hàng băng đĩa cũ gần Trường Âm nhạc Berklee. Lục lọi quanh những giá đĩa than LP cũ là một trong ít điều khiến cuộc đời đáng sống, đấy là tôi nghĩ. Đúng hôm ấy tôi tìm được một đĩa Pepper Adam thu cho Riverside có tên 10 to 4 at the 5 Spot. Nó là bản thu trực tiếp của Pepper Adams Quintet, với Donald Byrd chơi trumpet, ở New York trong câu lạc bộ jazz Five Spot. “10 to 4,” dĩ nhiên, là bốn giờ kém mười, nghĩa là họ chơi set nhạc hấp dẫn như vậy đến tận sáng. Bản này là bản ép đầu, trong tình trạng gần như hoàn hảo, và giá chỉ bảy tám đô la. Tôi có phiên bản Nhật của đĩa và đã nghe nhiều đến độ trầy hết cả. Tìm được một bản thu gốc trong cửa hàng tốt thế này với mức giá ấy có vẻ, phóng đại một chút, như một phép lạ nhỏ. Tôi rất vui khi mua được đĩa, và vừa rời cửa hàng thì một cậu thanh niên đi qua và hỏi, “Này, anh biết mấy giờ rồi không?” Tôi liếc đồng hồ và tự động trả lời, “Có, bốn giờ kém mười.”
Nói xong tôi mới nhận ra sự trùng hợp và nuốt nước bọt. Chuyện gì thế này? tôi tự hỏi. Có phải vị thần nhạc jazz đang lơ lửng trên bầu trời Boston, nháy mắt mỉm cười với tôi và nói, “Ê, cậu thích chứ?”
*
Cả hai chuyện trên đây đều không có gì đặc biệt. Không phải như cuộc đời tôi sang một ngã rẽ mới. Chỉ đơn giản là tôi ấn tượng với sự trùng hợp kỳ lạ—những thứ như thế thực sự xảy ra.
Đừng hiểu lầm tôi—tôi không phải kiểu người tin mấy hiện tượng huyền bí. Bói toán chẳng nghĩa lý gì với tôi. Thay vì mất công để thầy bói xem tay, tôi nghĩ tốt hơn mình nên vắt óc tìm giải pháp cho bất cứ vấn đề nào tôi gặp phải. Không phải tôi có đầu óc lỗi lạc gì cả, chỉ là đây có vẻ là cách nhanh hơn để tìm giải pháp. Tôi cũng không tin vào sức mạnh huyền bí. Luân hồi, linh hồn, linh cảm, thần giao cách cảm, tận thế—tôi bỏ qua. Tôi không nói mình không tin bất kỳ điều gì trong đó. Với tôi chúng thật sự tồn tại cũng chẳng vấn đề gì. Chỉ là cá nhân mà nói, tôi không quan tâm. Tuy nhiên, một số lượng đáng kể những điều kỳ lạ bất ngờ đã tô điểm cho cuộc sống đáng ra thật tẻ nhạt của tôi.
Chuyện tôi sắp kể đây là của một người bạn kể cho tôi. Có lần tình cờ tôi kể anh nghe hai câu chuyện của tôi, sau đó anh ngồi mặt nghiêm nghị một lúc rồi cuối cùng nói, “Cậu biết không, tớ cũng gặp chuyện tương tự. Chuyện gì đấy mà sự trùng hợp đưa tớ đến. Chẳng phải hoàn toàn kỳ lạ, nhưng tớ cũng không tài nào lý giải cặn kẽ được. Dù sao đi nữa, cả một chuỗi những điều trùng hợp đã đưa tớ đến nơi tớ chưa bao giờ ngờ đến.”
Tôi đã thay đổi một số chi tiết để bảo vệ danh tính mọi người, còn đâu câu chuyện giống hệt như anh ấy kể.
*
Bạn tôi làm nghề lên dây piano. Anh sống ở Tây Tokyo, gần sông Tama. Anh 41 tuổi, và đồng tính. Anh không đặc biệt giấu việc mình đồng tính. Anh có bạn trai trẻ hơn anh ba tuổi. Cậu bạn trai làm trong ngành bất động sản và vì công việc mà không thể công khai, nên họ không sống với nhau. Bạn tôi có thể là một người lên dây khiêm tốn nhưng anh đã tốt nghiệp khoa piano của một trường nhạc và bản thân cũng là một nghệ sĩ piano ấn tượng. Sở trường của anh là các nhà soạn nhạc Pháp hiện đại—Debussy, Ravel, và Erik Satie và anh chơi họ với biểu cảm sâu sắc. Nhưng Francis Poulenc mới là yêu thích nhất.
“Poulenc đồng tính,” một hôm anh giải thích. “Ông ấy chẳng cố che giấu chuyện đó. Một điều khá khó ngày ấy. Ông từng nói: ‘Nếu anh lấy đi phần đồng tính của tôi thì âm nhạc của tôi không bao giờ xuất hiện.’ Tớ biết chính xác ý ông là gì. Ông phải thành thật với bản chất đồng tính của ông chẳng khác gì thành thật với âm nhạc. Đấy là âm nhạc, và đấy là đời.”
Tôi cũng luôn thích nhạc Poulenc. Khi bạn tôi đến chỉnh cây piano cũ cho tôi đôi lúc tôi để anh chơi vài đoạn Poulenc ngắn lúc xong việc. “French Suite,” “Pastoral,” vân vân.
Anh “phát hiện” mình đồng tính sau khi vào trường nhạc. Trước đó anh chưa bao giờ nghĩ đến khả năng đấy. Anh đẹp trai, được dạy dỗ cẩn thận, có phong thái điềm đạm, và rất nổi với đám con gái trường trung học. Chưa bao giờ có bạn gái ổn định, nhưng anh có hẹn hò. Anh thích đi dạo với một cô gái, ngắm mái tóc cô thật gần, mùi hương nơi cổ cô, nắm bàn tay cô thanh mảnh. Nhưng anh chưa bao giờ trải qua chuyện tình dục. Sau vài lần hẹn hò với một cô gái anh bắt đầu cảm thấy cô đang hy vọng anh sẽ chủ động và làm gì đó, nhưng anh chưa bao giờ có thể tiến thêm một bước. Anh chưa bao giờ cảm thấy điều gì trong mình thúc đẩy anh làm vậy. Đám con trai không ngoại lệ đứa nào cũng vật lộn với những ham muốn tình dục của mình, một số đấu tranh, số khác lao đầu vào và đầu hàng, nhưng anh chưa bao giờ cảm thấy những kiểu ham muốn ấy. Có thể mình dậy thì muộn, anh nghĩ. Hoặc có thể mình chưa gặp đúng cô gái cần gặp.
Hồi đại học anh hẹn hò với một cô gái cùng khóa trong khoa nhạc cụ gõ. Họ thích trò chuyện, và bất cứ khi nào ở gần nhau họ đều cảm thấy gần gũi. Không lâu sau khi gặp nhau họ làm tình trong phòng cô. Cô là người dẫn anh về. Họ đã uống một chút. Chuyện diễn ra suôn sẻ, dù không nhiều cảm xúc và thỏa mãn như mọi người nói. Thật ra anh còn thấy nó thô bỉ, thậm chí ghê tởm. Và mùi hương nhè nhẹ mà cô gái tỏa ra khi kích thích khiến anh cụt hứng. Anh thích nói chuyện với cô, cùng nhau chơi nhạc, cùng nhau ăn hơn nhiều. Thời gian trôi qua, quan hệ tình dục với cô trở thành một gánh nặng.
Tuy vậy, anh chỉ nghĩ mình thờ ơ với tình dục. Nhưng cái ngày… Không, tôi sẽ bỏ qua đoạn này. Nó rất dài, và thực sự không liên quan đến câu chuyện tôi muốn kể. Cứ cho là có chuyện gì đó đã diễn ra và anh phát hiện mình, không thể nào nhầm lẫn, đồng tính. Không muốn bịa đặt lý do nào đó nên anh lập tức công khai và nói cô biết. Chỉ một tuần tất cả bạn bè anh đã biết chuyện. Anh mất đi vài người bạn, quan hệ giữa anh với bố mẹ trở nên khó khăn, nhưng quan trọng nhất là công khai thì tốt. Anh không phải típ người có thể che giấu bản chất thực sự của mình.
Đau lòng nhất lại là cách điều này ảnh hưởng đến quan hệ của anh với người thân nhất trong gia đình, chị gái hơn anh hai tuổi. Khi gia đình chồng chưa cưới của cô nghe chuyện anh công khai đồng tính, có vẻ như hôn lễ sẽ bị hủy bỏ, và dù hai người đã thuyết phục được gia đình nhà trai và cuối cùng vẫn kết hôn, mọi chuyện gần như đã khiến cô chị suy nhược tinh thần, và cô nổi giận với em mình. Sao mày phải chọn đúng lúc này trong cuộc đời tao để làm sóng làm gió? cô hét vào mặt anh. Lẽ tự nhiên, anh biện hộ cho mình, nhưng sau đó hai người trở nên xa cách, và thậm chí anh còn chẳng đến dự đám cưới cô.
Anh nói chung hài lòng với cuộc sống như một người đồng tính sống một mình. Trừ những người kỳ thị về mặt thể xác với người đồng tính, hầu hết đều thích anh—xét cho cùng, anh luôn ăn mặc đẹp, tử tế, và lịch sử, có khiếu hài hước nhẹ nhàng và nụ cười được lòng người. Anh làm tốt công việc, nên có danh sách khách hàng rộng lớn và thu nhập ổn định. Nhiều nghệ sĩ piano nổi tiếng chỉ muốn anh chỉnh nhạc cụ cho mình. Anh mua một căn hộ hai phòng ngủ gần một trường đại học và gần như đã trả hết nợ. Anh có dàn âm thanh nổi đắt tiền, là đầu bếp hữu cơ có tay nghề, và giữ dáng bằng cách tập gym năm ngày một tuần. Sau khi hẹn hò với nhiều người, anh gặp cậu bạn hiện tại và tận hưởng mối quan hệ tình dục ổn định với cậu ta trong gần một thập niên.
Thứ ba hàng tuần anh qua bên kia sông Tama bằng chiếc xe hơi thể thao mui trần có hộp số tự động hãng Honda và đến một trung tâm mua sắm ở tỉnh Kanagawa. Trung tâm có đủ các cửa hàng bán lẻ điển hình—Gap, Toys R Us, Body Shop. Vào cuối tuần nơi này chật ních và khó mà tìm được chỗ đậu xe, nhưng sáng ngày trong tuần thì gần như bỏ hoang. Anh sẽ đến một hiệu sách lớn ở trung tâm, chọn một cuốn lọt vào mắt, rồi dành vài giờ thư thái uống cà phê và đọc sách ở quán. Thứ ba của anh trôi qua như thế.
“Cái trung tâm thật gớm,” anh bảo tôi, “nhưng quán cà phê là ngoại lệ—một nơi nho nhỏ cực kỳ thoải mái. Tớ chỉ tình cờ qua đó. Họ không mở nhạc, cả quán cấm hút thuốc, ghế mà ngồi đọc thì hoàn hảo. Không quá cứng, chẳng quá mềm. Lại còn chẳng có ai ở đấy. Tớ không nghĩ sáng thứ ba cậu lại thấy nhiều người đến quán cà phê đâu. Có đến thì chắc cũng chỉ đến Starbucks gần đấy.”
Vậy là mỗi thứ ba lại thấy anh ở đấy, đắm mình trong sách, từ mười giờ hơn đến một giờ. Lúc một giờ anh đến quán ăn gần đấy, chén salad cá ngừ với Perrier, rồi đến phòng tập gym. Đấy là một ngày thứ ba bình thường.
*
Sáng thứ ba đặc biệt ấy anh đang đọc, như thường lệ, trong quán cà phê gần như vắng. Bleak House của Charles Dickens. Anh đã đọc nó nhiều năm trước, và khi thấy nó trên giá sách anh quyết định thử đọc lại. Anh nhớ rõ nó đọc thú vị, dù cả đời anh cũng không thể nào nhớ được cốt truyện. Dickens luôn là một trong những nhà văn yêu thích của anh. Đọc Dickens khiến thế giới tan biến. Từ trang đầu tiên anh đã thấy mình bị hút hoàn toàn vào câu chuyện.
Nhưng sau một tiếng tập trung đọc, anh thấy mệt. Anh gấp sách lại, đặt lên bàn, ra hiệu cho nhân viên rót thêm cà phê, rồi vào nhà vệ sinh bên ngoài quán. Khi anh về chỗ, một cô gái ở bàn bên cạnh, cũng đang đọc sách, bắt chuyện với anh.
“Xin lỗi anh, tôi hỏi anh câu này anh không phiền chứ?”
Cô nở nụ cười có phần mơ hồ khi anh nhìn lại. Cô trạc tuổi anh. “Dĩ nhiên,” anh trả lời.
“Tôi biết nói thế này thì tọc mạch, nhưng có điều tôi vẫn băn khoăn,” cô nói, hơi đỏ mặt.
“Không sao. Tôi không vội, chị cứ nói.”
“Có khi nào cuốn anh đang đọc là của Dickens?”
“Đúng đấy,” anh nói, giơ sách cho cô xem. “Bleak House.”
“Tôi cũng nghĩ thế,” cô nói, ra vẻ nhẹ nhõm. “Tôi liếc qua bìa và nghĩ chắc là nó.”
“Chị cũng là fan Bleak House à?”
“Vâng. Ý tôi là, tôi cũng đang đọc nó. Ngay cạnh anh, chỉ là trùng hợp.” Cô bỏ tấm giấy trơn bọc cuốn sách, loại nhà sách bọc vào nếu khách hàng muốn, và cho anh xem bìa.
Đó chắc chắn là một sự trùng hợp đáng ngạc nhiên. Tưởng tượng mà xem—một buổi sáng trong tuần, trong một quán cà phê vắng vẻ trong một trung tâm mua sắm vắng vẻ, hai người tình cờ ngồi cạnh nhau, đọc cùng một cuốn sách. Và không phải sách bán chạy quốc tế mà là Charles Dickens. Thậm chí cũng không phải những cuốn nổi tiếng hơn của ông. Cuộc gặp tình cờ kỳ lạ và bất ngờ này khiến hai người sửng sốt, nhưng nó cũng giúp họ vượt qua sự bối rối của cuộc gặp gỡ đầu tiên.
Cô sống trong một khu phát triển nhà ở mới không xa trung tâm mua sắm. Cô mua Bleak House cách đấy năm ngày cũng ở nhà sách ấy, và lần đầu tiên cô ngồi xuống quán cà phê này gọi một tách trà và mở sách ra cô thấy mình không thể nào dừng lại. Trước khi cô nhận ra đã hai giờ trôi qua. Chưa bao giờ cô say đọc sách như thế từ hồi đại học.
Cô nhỏ nhắn và, dù không thừa cân, đã bắt đầu có thêm chút da chút thịt ở tất cả những vị trí điển hình. Cô có vòng ngực lớn và gương mặt dễ nhìn. Quần áo cô trang nhã, trông có vẻ hơi đắt tiền. Hai người nói chuyện một lúc. Cô tham gia một câu lạc bộ sách và cuốn sách trong tháng của họ tình cờ là Bleak House. Một thành viên nữ trong câu lạc bộ là fan ruột của Dickens và cô ấy gợi ý cuốn tiểu thuyết này cho lần đọc tiếp theo. Cô có hai con (hai bé gái, một đứa lớp ba còn một đứa lớp một) và thường thì khó tìm được thời gian để đọc. Dù vậy đôi lúc cô cũng có thể ra khỏi nhà như hôm nay và dành ra chút thời gian. Hầu hết những người cô gặp hằng ngày là mẹ bạn học cùng lớp con gái cô, và chủ đề trò chuyện của họ chỉ giới hạn trong những bộ phim truyền hình cùng những tin đồn về giáo viên của con cái họ, nên cô tham gia một câu lạc bộ sách địa phương. Chồng cô cũng từng đọc sách kha khá, dù giờ công việc khiến anh bận đến nỗi thỉnh thoảng có thời gian liếc qua mấy đầu sách kinh doanh đã là may mắn.
Anh kể cho cô một chút về mình. Rằng anh làm nghề lên dây piano, sống bên kia sông Tama, và độc thân. Anh thích quán cà phê nhỏ này đến nỗi mỗi tuần một lần anh lái cả chặng đường đến đây chỉ để ngồi đọc sách. Anh không nhắc đến việc mình đồng tính. Không phải anh cố ý che giấu, mà đấy chỉ là chuyện không phải kể cho ai cũng được.
Họ ăn trưa cùng nhau ở một nhà hàng trong trung tâm mua sắm. Cô thuộc kiểu người rất cởi mở và trung thực. Khi đã thoải mái cô cười rất nhiều—điệu cười tự nhiên, thầm lặng. Chẳng cần cô nói anh cũng tưởng tượng được cuộc sống của cô từ trước đến nay. Cô là con gái rượu của một gia đình giàu có ở Setagaya, học một trường đàng hoàng, cưới ông chồng hơn cô ba tuổi có mức lương khấm khá, rồi có hai bé gái. Chúng học trường tư. Mười hai năm hôn nhân của cô không hẳn toàn màu hồng, nhưng cô cũng không có than phiền gì đặc biệt. Hai người ăn một bữa trưa nhẹ và nói chuyện về những cuốn sách họ đọc gần đây, thứ âm nhạc họ thích. Họ nói chuyện khoảng một giờ.
“Thật là thích,” cô nói khi họ ăn xong, đỏ mặt. “Tôi chẳng có ai có thể thực sự nói chuyện cùng.”
“Tôi cũng thích,” anh nói. Và đấy là sự thật.
*
Thứ ba tuần sau, trong lúc anh đang ngồi đọc sách trong quán cà phê, cô lại xuất hiện. Họ chào nhau bằng một nụ cười và ngồi ở hai bàn riêng biệt, cả hai lặng lẽ đi sâu vào cuốn Bleak House của mình. Gần trưa cô qua bàn nói chuyện với anh, và như tuần trước họ cùng nhau đi ăn. Tôi biết một quán Pháp nho nhỏ ấm cúng gần đây, cô nói, không biết anh có muốn đi không. Trong trung tâm chẳng có nhà hàng nào khá. Nghe được đấy, anh đồng ý, vậy mình đi nhé. Họ đến nhà hàng bằng chiếc Peugeot 306 tự động màu lam của cô, ăn salad cải xoong và cá chẽm, kèm một ly vang trắng. Và thảo luận về tiểu thuyết của Dickens trong khi ăn.
Ăn xong, trên đường về, cô dừng xe ở công viên và nắm tay anh. Cô muốn một nơi nào đó đẹp và yên tĩnh với anh, cô nói. Anh hơi ngạc nhiên khi mọi thứ phát triển nhanh đến thế.
“Chưa bao giờ tôi làm chuyện gì thế này sau khi kết hôn. Chưa một lần nào,” cô giải thích. “Nhưng anh là tất cả những gì tôi nghĩ đến tuần qua. Tôi hứa sẽ không đòi hỏi gì cả, cũng không khiến anh gặp rắc rối. Dĩ nhiên nếu anh không thấy tôi hấp dẫn…”
Anh nhẹ nhàng nắm chặt tay cô, rồi lặng lẽ giải thích mọi chuyện. Nếu tôi là một người đàn ông bình thường, anh nói, chắc chắn tôi sẽ rất vui khi được đi cùng chị đến một nơi đẹp và yên tĩnh. Chị hấp dẫn và tôi biết dành thời gian như thế với chị thì thật là tuyệt. Nhưng vấn đề là, tôi là người đồng tính. Do vậy mà tôi không thể quan hệ với phụ nữ. Một số người đồng tính làm được chuyện ấy, nhưng tôi thì không. Tôi hy vọng chị hiểu. Tôi có thể làm bạn với chị, nhưng e là không thể làm người tình. Mất một lúc cô mới thực sự hiểu những gì anh đang cố gắng diễn đạt (anh là người đồng tính đầu tiên mà cô từng gặp), và sau khi cuối cùng cũng nắm bắt được điều đó, cô bắt đầu khóc. Dụi mặt vào vai anh, cô khóc một lúc lâu. Đó chắc hẳn là một cú sốc với cô. Cô gái tội nghiệp, anh nghĩ, rồi vòng tay qua người cô và vuốt ve tóc cô.
“Thứ lỗi cho tôi,” cuối cùng cô nói. “Tôi làm anh phải nói chuyện anh không muốn nói.”
“Không sao mà. Tôi không cố che giấu con người mình. Tôi nghĩ mình nên làm rõ chuyện chúng ta sẽ đi đến đâu để không phải hiểu lầm. Tôi sợ mình là người làm chị đau lòng.”
Những ngón tay thon dài vuốt ve mái tóc cô một lúc lâu, dần dần có tác dụng làm dịu. Anh để ý thấy dái tai phải của cô có một nốt ruồi. Nốt ruồi gợi lên một ký ức thời thơ ấu. Chị gái anh cũng có một nốt ruồi cỡ ấy, ở cùng chỗ ấy. Hồi còn nhỏ, anh thường nghịch ngợm kỳ nốt ruồi của chị anh lúc chị đang ngủ, cố tẩy nó đi. Chị anh tỉnh dậy, bực tức.
“Từ lúc gặp anh ngày nào tôi cũng phấn khích,” cô nói. “Tôi không cảm thấy như thế từ rất lâu rồi. Nó rất tuyệt—cảm giác như trở về thời niên thiếu. Thế nên tôi chẳng quan tâm. Tôi đến thẩm mỹ viện, bắt đầu chế độ ăn kiêng cấp tốc, mua đồ lót Ý…”
“Nghe như tôi làm chị tốn tiền rồi,” anh cười.
“Nhưng tôi nghĩ mình cần nó bây giờ đấy.”
“Cần gì?”
“Phải làm gì đấy để thể hiện cảm xúc của mình.”
“Bằng cách mua đồ lót Ý à?”
Cô đỏ tía tai. “Nó chẳng sexy gì đâu. Không đâu. Chỉ là rất đẹp thôi.”
Anh tươi cười nhìn vào mắt cô. Anh ra dấu mình chỉ đùa thôi và điều đó phá vỡ sự căng thẳng. Cô cười lại, và trong một lúc hai người nhìn sâu vào mắt nhau.
Anh lấy khăn tay lau nước mắt cho cô. Cô ngồi thẳng dậy và trang điểm lại, soi mình qua gương chống chói.
“Ngày kia tôi phải vào viện trong thành phố lấy kết quả xét nghiệm ung thư vú lần hai.” Cô vừa đánh xe vào chỗ đậu trong trung tâm mua sắm và kéo phanh tay. “Họ thấy một khối đáng ngờ trên kết quả chụp X-quang định kỳ hằng năm của tôi rồi bảo tôi đến cho họ làm thêm xét nghiệm. Nếu hóa ra là ung thư thật thì có lẽ tôi phải phẫu thuật ngay. Có lẽ vì thế mà tôi mới hành xử như ngày hôm nay. Tôi muốn nói là…”
Cô không nói gì trong một lúc, rồi lắc đầu dữ dội.
“Tôi chẳng hiểu nổi mình.”
Anh đo sự im lặng của cô trong một lúc. Lắng nghe cẩn thận, như thể để đón lấy một âm thanh yếu ớt bên trong.
“Gần như sáng thứ ba nào tôi cũng ở đây,” anh nói. “Ở ngay đây, đọc sách. Tôi không làm được gì nhiều để giúp đỡ, nhưng tôi ở đây nếu chị cần người nói chuyện. Ấy là nếu chị không ngại nói chuyện với người như tôi.”
“Tôi chưa nói ai biết chuyện này. Kể cả chồng tôi.”
Anh đặt tay lên tay cô, trên cần phanh tay.
“Tôi sợ lắm,” cô nói. “Có lúc sợ đến nỗi không nghĩ nổi.”
Một chiếc minivan xanh lam đánh vào cạnh họ, một cặp vợ chồng trung niên bất hạnh bước ra. Họ đang cãi nhau chuyện gì đó vô nghĩa. Họ đi rồi, im lặng trở lại. Mắt cô nhắm.
“Tôi không có tư cách đưa ra lời khuyên nào cả,” anh nói, “nhưng có một quy tắc mà tôi luôn làm theo mỗi khi tôi không biết phải làm gì.”
“Quy tắc?”
“Nếu phải chọn giữa cái có hình thức với cái không có, hãy chọn cái không có hình thức. Đấy là quy tắc của tôi. Bất cứ khi nào gặp bế tắc tôi đều làm theo quy tắc ấy, và nó luôn luôn hiệu quả. Dù lúc đấy có khó khăn thế nào.”
“Anh tự đặt ra quy tắc đấy à?”
“Đúng thế,” anh trả lời, nhìn bảng đồng hồ của chiếc Peugeot. “Từ kinh nghiệm của tôi.”
“Nếu phải chọn giữa cái có hình thức với cái không có, hãy chọn cái không có hình thức,” cô nhắc lại.
“Đúng thế.”
Cô ngẫm nghĩ điều này. “Nhưng nếu phải làm điều đó ngay lúc này tôi không biết mình có biết sự khác biệt hay không. Giữa cái có hình thức với cái không có.”
“Có thể không, nhưng tôi chắc rồi đến một lúc nào đó cô sẽ phải lựa chọn kiểu đấy.”
“Sao anh biết?”
Anh khẽ gật đầu. “Một người đồng tính dày dặn như tôi thì có đủ kiểu sức mạnh đặc biệt.”
Cô cười. “Cảm ơn anh.”
Theo sau là một khoảng im lặng dài. Nhưng không đặc quánh và ngột ngạt như trước.
“Tạm biệt,” cô nói. “Tôi thực sự muốn cảm anh. Tôi rất vui vì được gặp anh, và được nói chuyện. Giờ thì tôi cảm thấy có khả năng đối mặt với mọi chuyện hơn rồi.”
Anh mỉm cười và bắt tay cô. “Bảo trọng nhé.”
Anh đứng đấy, nhìn theo chiếc Peugeot xanh của cô xa dần. Anh vẫy tay lần cuối về phía gương chiếu hậu của xe cô, rồi chầm chậm bước về chỗ chiếc Honda của anh đang đỗ.
*
Thứ ba tuần sau trời mưa và cô không xuất hiện ở quán. Anh im lặng đọc đến một giờ rồi về.
Hôm ấy người anh quyết định không đi tập gym. Chỉ là anh cảm thấy không muốn. Thay vào đó anh về thẳng nhà mà không dừng lại ăn trưa rồi nằm trên ghế, nghe Arthur Rubinstein chơi ballad của Chopin. Nhắm mắt, anh có thể hình dung ra khuôn mặt của cô, cảm giác chạm vào mái tóc cô. Hình dạng cái nốt ruồi trên dái tai cô trở lại rõ ràng. Một lúc sau khuôn mặt cô và chiếc Peugeot mờ dần trong tâm trí anh, nhưng cái nốt ruồi vẫn còn lại đó. Nhắm mắt hay mở mắt, cái chấm nhỏ màu đen vẫn ở đó, như một thời bị lãng quên.
Khoảng hai rưỡi chiều anh quyết định gọi cho chị mình. Rất lâu rồi họ chưa nói chuyện. Bao lâu, anh tự hỏi. Mười năm? Họ xa lạ với nhau như vậy đấy. Một lý do là từ hồi lễ đính hôn của cô gặp chuyện, hai người họ mất kiểm soát và nói những điều không nên nói. Lý do khác là anh không thích chồng cô. Anh ta kiêu ngạo và thô lỗ, và coi thiên hướng tình dục của người lên dây piano như một căn bệnh truyền nhiễm. Trừ khi bắt buộc, anh không muốn lại gần anh ta trong vòng một trăm thước.
Anh do dự mấy lần trước khi nhấc điện thoại lên, nhưng cuối cùng vẫn bấm số. Điện thoại reo hơn mười lần và anh định bỏ cuộc—thật ra, với một cảm giác nhẹ nhõm nhất định—khi chị anh nghe máy. Giọng nói quen thuộc. Khi chị nhận ra anh, có một thoáng im lặng tột cùng ở đầu bên kia đường dây.
“Em gọi chị làm gì?” cô hỏi, giọng bằng bằng.
“Em không biết,” anh thừa nhận. “Em nghĩ gọi chị thì tốt hơn. Em thấy lo cho chị.”
Im lặng một lần nữa. Dài hơn. Có lẽ chị còn giận mình, anh nghĩ.
“Em gọi không có gì đặc biệt. Chỉ là muốn biết mọi chuyện có ổn không thôi.”
“Đợi tí,” cô nói. Anh biết cô đang khóc. “Xin lỗi, đợi chị chút nhé?”
Tiếp tục im lặng một lúc lâu. Anh áp chặt điện thoại vào tai mình. Chẳng thể nghe thấy gì, hay cảm nhận được gì. “Giờ em có bận không?” cuối cùng chị anh hỏi.
“Không, em rảnh.”
“Chị qua thăm em nhé?”
“Vâng. Em sẽ đến nhà ga đón chị.”
Một giờ sau anh đón cô ở nhà ga rồi đưa cô về căn hộ mình. Đã mười năm trôi qua kể từ lần cuối họ gặp nhau, và họ phải thừa nhận cả hai đều già đi. Họ giống như một tấm gương cho người kia, phản ánh những thay đổi trong bản thân mình. Chị anh vẫn gầy và phong cách, trông trẻ hơn năm tuổi so với tuổi thật. Vậy nhưng đôi má trũng của cô có vẻ nghiêm trọng mà trước đây anh chưa từng thấy, và đôi mắt đen ấn tượng của cô đã mất vẻ tươi sáng thường thấy. Bản thân anh trông cũng trẻ hơn tuổi, dù khó mà giấu đi sự thật là tóc anh đang thưa dần. Trong xe họ ngập ngừng nói những chuyện điển hình: công việc, con cái, tin tức về những người bạn chung, tình hình sức khỏe của bố mẹ.
Về đến nhà anh vào bếp đun nước.
“Em vẫn chơi piano à?” cô hỏi trong lúc nhìn chiếc piano đứng trong phòng khách.
“Chơi cho vui thôi. Mà chỉ mấy bài đơn giản. Em không đánh được mấy bài khó nữa.”
*
Chị anh lật nắp piano lên và đặt tay lên những phím vàng đã cũ. “Chị chắc chắn một ngày nào đấy em sẽ là nghệ sĩ piano nổi tiếng.”
“Thế giới âm nhạc là nơi những đứa trẻ thần đồng đến để chết,” anh nói trong lúc nghiền hạt cà phê. “Phải từ bỏ ý tưởng trở thành nghệ sĩ piano chuyên nghiệp là một điều hết sức thất vọng. Giống như kiểu mọi thứ em làm từ trước đến nay đều công cốc. Em chỉ muốn biến mất. Nhưng hóa ra tai em lại tốt hơn tay. Có nhiều người tài năng hơn, nhưng chẳng ai có đôi tai nhạy như em. Em nhận ra điều đó không lâu sau khi vào đại học. Làm người lên dây piano hạng nhất thì tốt hơn nhiều so với làm nghệ sĩ piano hạng hai.”
Anh lấy hộp kem ra khỏi tủ lạnh và đổ nó vào một cái bình gốm.
“Buồn cười thật đấy, nhưng sau khi chuyển sang lên dây em lại bắt đầu thích chơi piano hơn trước. Từ nhỏ em đã tập đàn như điên. Thấy mình cải thiện thì vui, nhưng chưa bao giờ em thích chơi cả. Chơi piano chỉ là một cách giải quyết những vấn đề nhất định. Cố gắng tránh gõ nhầm hay để những ngón tay mình nhảy múa—tất cả chỉ là để gây ấn tượng với người khác. Phải đến khi từ bỏ ý tưởng trở thành nghệ sĩ piano cuối cùng em mới hiểu chơi piano có thể thú vị như thế nào. Và âm nhạc thì thực sự kỳ diệu ra sao. Nó giống như gánh nặng được rũ khỏi vai, gánh nặng mà em chưa bao giờ nhận ra mình đang mang cho đến khi thoát khỏi nó.”
“Em chưa bao giờ kể chị chuyện này.”
“Chưa?”
Chị anh gật đầu.
“Lúc em nhận ra mình đồng tính cũng thế,” anh tiếp tục. “Những vấn đề em chưa bao giờ hiểu bỗng nhiên được giải quyết. Cuộc sống sau đấy dễ dàng hơn nhiều, như những đám mây đã tan và cuối cùng em có thể nhìn được. Khi từ bỏ ý định làm nghệ sĩ piano và công khai mình là người đồng tính, em chắc mình đã làm mất lòng rất nhiều người. Nhưng em muốn chị hiểu đấy là cách duy nhất em có thể trở về với con người thật của mình. Con người thật của em.”
Anh đặt tách cà phê trước mặt chị mình, rồi lấy cốc của mình và ngồi cạnh cô trên sofa.
“Đáng lẽ chị nên cố gắng hơn để hiểu em hơn,” chị anh nói. “Nhưng trước khi làm thế em nên giải thích với mọi người. Nói mọi người biết em nghĩ gì, để mọi người góp ý và—”
“Em không muốn giải thích gì cả,” anh cắt lời cô. “Em muốn mọi người hiểu em, mà không phải nói gì cả. Nhất là chị.”
Cô không nói gì.
“Lúc đấy chỉ là em không thể lưu ý đến cảm xúc của người khác. Em không đủ khả năng nghĩ về chuyện ấy.”
Giọng anh có chút run rẩy khi anh nhớ lại quãng thời gian ấy trong cuộc đời mình. Anh thấy như muốn òa ra khóc nhưng bằng cách nào đó vẫn kìm lại được và tiếp tục.
“Cuộc đời em thay đổi hoàn toàn, chỉ trong một thời gian ngắn. Đấy là tất cả những gì em có thể làm để sống tiếp mà không sụp đổ. Em rất sợ, rất hoảng loạn. Lúc đấy em chẳng thể giải thích gì với ai cả. Em thấy mình như sắp biến mất khỏi mặt đất. Em chỉ muốn chị hiểu em. Và giữ em lại. Không cần logic hay giải thích gì. Nhưng chẳng ai—”
Chị anh ôm mặt. Vai cô run rẩy trong lúc cô lặng lẽ khóc. Anh nhẹ nhàng đặt tay lên vai cô.
“Chị xin lỗi.”
“Không sao đâu,” anh trả lời. Anh rót chút kem vào cốc cà phê, khuấy đều, rồi chầm chậm nhấp một ngụm, cố gắng kiềm chế. “Không phải khóc. Cũng là lỗi của em.”
“Nói chị nghe,” cô nói, ngẩng mặt nhìn thẳng vào anh, “sao đúng hôm nay em gọi chị?”
“Hôm nay?”
“Em không gọi suốt mười năm nay, chị chỉ muốn biết sao em lại chọn hôm nay?”
“Có một chuyện xảy ra,” anh nói, “và nó làm em nghĩ về chị. Em chỉ muốn biết dạo này chị thế nào. Em muốn nghe giọng chị. Thế thôi.”
“Chưa ai bảo gì em à?”
Có gì đó rất khác trong giọng cô, và anh bồn chồn. “Không, em chưa thấy ai bảo gì em cả. Có chuyện gì à?”
Chị anh im lặng một lúc, lấy tinh thần. Anh kiên nhẫn đợi cô giải thích.
“Mai chị vào viện.”
“Vào viện?”
“Mai chị mổ ung thư vú. Họ sẽ cắt bên phải. Toàn bộ. Nhưng chẳng ai biết nó có ngăn được ung thư di căn hay không. Cắt rồi họ mới biết được.”
Trong một lúc anh chẳng thể nói gì, tay anh vẫn trên vai cô, anh nhìn quanh một cách vô nghĩa hết thứ này đến thứ khác trong phòng. Đồng hồ, đồ trang trí, lịch, cái điều khiển từ xa của dàn âm thanh. Những đồ vật quen thuộc trong phòng, nhưng vì lý do nào đó anh không thể nắm bắt được khoảng cách ngăn cách giữa cái này với cái khác.
“Cả một thời gian dài chị đã tự hỏi mình có nên liên lạc với em không,” chị anh nói. “Cuối cùng chị nghĩ là không, nên chưa bao giờ chị nói gì cả. Nhưng chị rất muốn gặp em. Chị nghĩ ít nhất mình cũng nên có một buổi trò chuyện vui vẻ. Có những chuyện chị phải xin lỗi. Nhưng… chị không muốn thấy em như thế này. Em có biết chị đang nói gì không.”
“Em biết,” em cô nói.
“Nếu gặp, chị muốn gặp trong hoàn cảnh tốt đẹp hơn, lúc em có thể lạc quan hơn về mọi chuyện. Nên chị quyết định không liên lạc với em. Nhưng đúng lúc chị quyết tâm như thế thì em gọi—”
Không nói lời nào, anh vòng cả hai tay ôm cô và kéo lại gần. Anh có thể thấy ngực cô áp vào ngực anh. Cô gối mặt lên vai anh và khóc. Hai chị em ngồi như thế một lúc lâu.
Cuối cùng cô lên tiếng. “Em bảo có chuyện xảy ra làm em nghĩ đến chị. Chuyện gì thế? Nếu em không ngại nói chị biết.”
“Em chẳng biết phải nói thế nào. Khó giải thích lắm. Chỉ là có chuyện xảy ra thôi. Một chuỗi những điều trùng hợp. Hết chuyện này đến chuyện khác rồi em—”
Anh lắc đầu. Cảm nhận về khoảng cách vẫn chưa trở lại. Hàng năm ánh sáng ngăn cách đồ trang trí với cái điều khiển.
“Chỉ là em không giải thích được,” anh nói.
“Không sao đâu,” cô nói. “Dù sao chị cũng mừng. Rất mừng.”
Anh sờ lên dái tai cô và nhẹ nhàng kỳ cái nốt ruồi. Sau đó, như gửi một lời thì thầm không lời vào một nơi rất đặc biệt nào đó, anh cúi xuống hôn lên nó.
*
“Vú bên phải của chị tớ bị cắt trong ca mổ, nhưng may là ung thư không di căn và chị ấy chỉ cần điều trị bằng hóa trị liều thấp. Thậm chí tóc còn không rụng. Giờ chị ấy ổn cả rồi. Gần như ngày nào tớ cũng vào viện thăm chị. Với phụ nữ mà mất một bên vú như thế thì kinh khủng lắm. Sau khi chị về nhà, tớ đến thăm họ khá thường xuyên. Tớ bắt đầu gần gũi với các cháu. Tớ còn dạy cháu gái chơi đàn nữa. Chẳng phải khoe khoang gì đâu, nhưng mà nó hứa hẹn lắm. Giờ đã quen anh rể rồi hóa ra anh ấy cũng không hẳn tồi tệ như tớ nghĩ. Chắc chắn, anh ấy vẫn coi mình là nhất và có hơi thô lỗ, nhưng dù sao cũng làm việc chăm chỉ và tốt với chị tớ. Và cuối cùng anh ấy cũng hiểu đồng tính không phải là bệnh truyền nhiễm mà tớ sắp sửa lây cho các con anh. Một bước nhỏ nhưng ý nghĩa.”
Anh cười. “Làm lành với chị, tớ thấy như mình đã bước tiếp trong cuộc sống. Như giờ tớ có thể sống theo cách mình phải sống, hơn bao giờ hết… Đấy là chuyện tớ phải đối mặt. Tớ nghĩ trong thâm tâm tớ luôn hy vọng chị em tớ sẽ làm lành, và có thể ôm nhau một lần nữa.”
“Nhưng phải có chuyện gì xảy ra rồi cậu mới thế được chứ?” tôi hỏi.
“Đúng đấy,” anh nói, gật đầu mấy lần. “Đấy là điều quan trọng nhất. Cậu biết không, lúc đấy tớ nghĩ thế này: có lẽ suy cho cùng chuyện tình cờ là một thứ khá phổ biến. Những điều trùng hợp kiểu này vẫn diễn ra xung quanh chúng ta, mọi lúc, nhưng phần lớn nó không khiến chúng ta để ý và chúng ta để mặc nó trôi qua. Như pháo hoa giữa ban ngày vậy. Cậu có thể nghe thấy một tiếng nổ nhỏ, nhưng nhìn lên trời thì chẳng thấy gì. Nhưng nếu chúng ta thực sự hy vọng điều gì đó có thể trở thành sự thật, thì nó có thể trở nên hữu hình, như một thông điệp nổi lên bề mặt. Rồi chúng ta có thể xử lý nó một cách rõ ràng, giải mã ý nghĩa của nó. Và thấy nó trước mắt chúng ta chúng ta lại ngạc nhiên và tự hỏi sao những điều kỳ lạ như thế có thể xảy ra. Cho dù nó chẳng có gì kỳ lạ cả. Tớ không thể không nghĩ thế. Cậu nghĩ sao? Đấy có phải là ép buộc mọi chuyện không?”
Tôi nghĩ về cái anh nói. Cậu biết đấy, có thể cậu đúng, tôi tìm cách trả lời. Nhưng tớ không hoàn toàn chắc mọi chuyện có thể được gói ghém gọn gàng như thế.
“Tớ thà tin vào cái gì đấy đơn giản hơn, một vị thần nhạc jazz chẳng hạn,” tôi nói.
Anh cười. “Tớ thích thế. Có vị thần của người đồng tính nữa thì tốt.”
*
Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với người phụ nữ nhỏ nhắn mà anh gặp ở quán cà phê sách. Tôi chưa chỉnh đàn hơn nửa năm nay, và vẫn chưa có cơ hội nói chuyện với anh. Nhưng tôi hình dung thứ ba nào anh cũng lái qua sông Tama đến quán cà phê ấy. Ai biết—có thể anh lại gặp cô lần nữa. Nhưng tôi vẫn chưa nghe được chuyện gì, nghĩa là câu chuyện kết thúc ở đây.
Tôi không quan tâm đấy là vị thần nhạc jazz, vị thần của người đồng tính, hay vị thần nào khác, nhưng tôi hy vọng, ở đâu đó, một cách kín đáo, như thể tất cả chỉ là trùng hợp, ai đó trên cao kia đang dõi theo người phụ nữ ấy. Tôi hy vọng thế từ tận đáy lòng. Một hy vọng rất giản đơn.
Copyright © 2005 by Haruki Murakami
Hanoi
Be the first to know and let us send you an email when K i k i posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.
Tell us why this listing should be removed. Our team will review your request.